vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 16/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên;

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 556/KTHS(GĐ-2022); bên ngoài có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc Ch, Phùng Đức Qu; bên trong chứa 194,50 gam mẫu ma túy, loại MDMA và 148,50 gam mẫu ma túy, loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Tan Q cung đp - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phan Ngọc Minh.

Thẩm phán:

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Bá Lân.

Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.

Bà Huỳnh Thị Sương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1994 tại tỉnh Q; nơi đăng ký thường trú: Thôn ĐG, xã HTĐ, huyện NH, tỉnh Q; nơi ở hiện tại: Tổ 03, phường NL, thành phố Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S (Chết) và bà Lê Thị H; có vợ Đặng Thị Th và 01 con sinh năm 2019; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 29/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh Q xử phạt 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 11/2021/HS-ST, bị cáo Nguyễn Tấn Q chưa chấp hành xong bản án; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Mai Văn D, sinh ngày 27/10/2006 tại tỉnh Q; nơi đăng ký thường trú: Tổ 02, phường CL, thành phố Q, tỉnh Q; nơi ở hiện tại: Thôn TN, xã TÂ, thành phố Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn V và bà Phạm Thị Duyên L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Nguyễn Tấn Q: Bà Phan Thị Bích X – Là Luật sư Văn phòng Luật sư Phan Thị Bích X thuộc Đoàn luật sự tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Số 899 đường QT, thành phố Q, tỉnh Q (Theo Văn bản số 35/ĐLS V/v phân công TGTT vụ án theo luật định ngày 28/6/2022 của Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi); có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Mai Văn D: Ông Trần Việt Ng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi. (Theo Quyết định về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng số 299/QĐ-TGPL ngày 13/9/2022 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi); có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Mai Văn D: Bà Trần Thị H – Luật sư Văn phòng luật sư MH và Cộng sự; Địa chỉ: 151 đường Phan Bội Ch, phường Lê Hồng Ph, thành phố Q, tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mai Văn D: Ông Mai Văn V, sinh năm 1977 và bà Phạm Thị Duyên L, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số 20 đường Võ Thị S, tổ 02, phường CL, thành phố Q, tỉnh Q; nơi ở hiện tại: Đội 03, thôn TN, xã TÂ, thành phố Q, tỉnh Q; đều có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1997; có mặt tại phiên tòa.

Đều trú tại: Xóm KT, thôn TC, xã TK, thành phố Q, tỉnh Q.

- Người làm chứng:

1. Ông Phan Trọng T, sinh năm 2000; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: 442/26C NCP, phường NL, thành phố Q, tỉnh Q.

2. Chị Đào Thị L, sinh năm 1998; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Số 100 đường TĐT, thành phố Q, tỉnh Q.

3. Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1982; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn 04, xã ĐNh, huyện M, tỉnh Q.

4. Chị Phạm Thị Thu Th, sinh năm 2004; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Số nhà 68/01 đường NT, thành phố Q, tỉnh Q.

5. Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 2000; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Đội 5, thôn TL, xã TL, thành phố Q, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 10/6/2022, tại nơi giao nhận hàng của Nhà xe TT thuộc thôn 3, xã ĐN, huyện M, tỉnh Q, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ngãi phát hiện Nguyễn Tấn Q đang nhận thùng hàng tại Nhà xe TT nghi vấn bên trong có cất giấu ma túy nên tiến hành làm việc, kiểm tra thùng hàng. Quyền khai nhận bên trong thùng hàng mà Q đang giữ có chứa ma túy và tự tay mở thùng hàng vừa nhận ra, bên trong thùng hàng có chứa: 150 gam ma túy loại Ketamine; 196,12 gam ma túy loại MDMA nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tấn Q.

Qua điều tra xác định: Nguyễn Tấn Q và Mai Văn D là những đối tượng sử dụng ma túy, không có chỗ ở cố định. Q và D quen biết với Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1997, HKTT: thôn TC, xã TK, thành phố Q, tỉnh Q, thấy D và Q không có chỗ ở nên H rủ Q và D đến ở trọ cùng với H và một số người bạn của H tại số nhà 79/8 đường LQĐ, thuộc tổ 3, phường NL, thành phố Q, tỉnh Q. Tại đây, H ở riêng một phòng ở tầng dưới; Phạm Thị Thu Th, sinh năm: 2004, HKTT: tổ dân phố 2, thị trấn LH, huyện TN, tỉnh Q và Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, HKTT: thôn TL, xã TL, thành phố Q, tỉnh Q ở cùng một phòng, Đào Thị L, sinh năm 1998, HKTT: thôn HH, xã HT, huyện CT, tỉnh ĐT ở một phòng, còn Q và D ở một phòng ở tầng 2 của nhà trọ.

Theo lời khai của Q và D thì sáng ngày 10/6/2022, Q và D đang ngủ thì H gọi dậy để đi nhận ma túy cho H. H gọi Q và D vào phòng, đưa cho mỗi người một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, điện thoại của Q có gắn số thuê bao “0777526871”, điện thoại của D có gắn số thuê bao “0777446871”. Sau đó, H phân công nhiệm vụ cho Q và D như sau: Q có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1- 718.23 của D đi vào điểm nhận hàng của nhà xe TT, ở thôn 3, xã ĐN, huyện MĐ, tỉnh Quảng Ngãi để nhận ma túy. Khi vào đến nơi Q sẽ gặp nhân viên giao hàng và đọc số điện thoại “0793939433” để nhận gói hàng có chứa ma túy (H đã bấm sẵn số điện thoại này trong điện thoại đưa cho Q); còn D đi xe taxi đến phía Bắc cầu Sông Vệ cũ đứng đợi Q. Sau khi Q nhận ma túy xong sẽ đi ra chỗ D đứng đợi sẵn và lên xe taxi cầm theo gói ma túy về nhà trọ, còn D sẽ đi xe mô tô biển kiểm soát 76B1-718.23 về nhà trọ. Sau khi H phân công nhiệm vụ, Q và D đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1- 718.23 đi trước, còn D, H và T lên xe taxi đi sau, khi xe taxi đến quán cà phê AH ở khu Ngọc Bảo Viên thì H và T xuống xe, D tiếp tục ngồi trên xe đi đến cầu Sông Vệ cũ. Khi Q đến điểm giao hàng của nhà xe TT gặp nhân viên giao hàng, đọc số điện thoại “0793939433” để nhận 01 (một) thùng hàng bằng giấy carton, bên ngoài quấn băng keo màu vàng - đen có chữ hàng dễ vỡ, trên thùng hàng có ghi chữ màu đen “H 0793939433 Quảng Ngãi Bà Đạt”, khi nhận xong Q mang thùng hàng đi ra xe mô tô thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra tại khu vực cầu Sông Vệ cũ, phát hiện Mai Văn D đang ngồi trên xe taxi do lái xe Phan Trọng T, sinh năm 2001, ở thôn NH 1, xã BTP, huyện BS, tỉnh Q điều khiển. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành mời D về trụ sở Công an xã ĐN, huyện M để làm việc, quá trình làm việc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tấn Q và Mai Văn D tại số nhà 79/8 đường LQĐ thuộc tổ 3, phường NL, thành phố Q, tỉnh Q thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Tấn Q 01 (một) mảnh giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) viên nén màu xanh hình trụ tròn (0,33 gam ma túy loại MDMA) và một số đồ vật khác. Q khai nhận, trước thời điểm bị bắt Q đến quán Karaoke TT2 sử dụng ma túy, còn dư 01 (một) viên ma túy kẹo nên gói vào tờ giấy đem về phòng trọ cất giấu sử dụng.

* Kết quả giám định:

Ngày 11/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định trưng cầu giám định số 105/QĐ-CSĐT(CSMT), trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi giám định chất rắn màu trắng; viên nén màu xanh không rõ hình dạng; mảnh vỡ và chất bột màu xanh; viên nén hình trụ màu xanh thu giữ của Nguyễn Tấn Q.

Tại bản Kết luận giám định số 556/KL- KTHS, ngày 17/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

- Chất rắn màu trắng bên trong 03 túi ni lông trong phong bì thứ nhất gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng mẫu: 150 gam.

- Các viên nén màu xanh không rõ hình dạng cùng nhiều mảnh vỡ và chất bột màu xanh bên trong phong bì thứ hai gửi giám định là ma túy, loại: MDMA; khối lượng mẫu: 196,12 gam.

- 01 (một) viên nén màu xanh hình trụ tròn bên trong phong bì thứ ba gửi giám định là ma túy, loại: MDMA; khối lượng mẫu: 0,33 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. (Bút lục 53-54)

- Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi giám định dữ liệu điện tử đối với các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo và dữ liệu điện tử thu được trong 03 (ba) camera gắn tại nhà trọ của các bị cáo. (Bút lục 60-61, 66-80, 84, 85).

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Tấn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và truy tố Mai Văn D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Q 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội là từ 21 năm đến 21 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Mai Văn D từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- 01 (một) phong bì niêm phong số 556/KTHS(GĐ-2022); bên ngoài có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc Ch, Phùng Đức Qu; bên trong chứa 194,50 gam mẫu ma túy, loại MDMA và 148,50 gam mẫu ma túy loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) giấy phép lái xe số 510133001408, mang tên “Nguyễn Tấn Q” không liên quan đen vụ án, đề nghị trả lại cho Nguyễn Tấn Q.

- 01 (một) thẻ căn cước công dân số 051206010839, mang tên “Mai Văn D” không liên quan đến vụ án, đề nghị trả lại cho Mai Văn D.

- 01 (một) thùng giấy carton, bên ngoài dán băng keo màu vàng - đen, trên băng keo có dòng chữ “HÀNG DỄ VỠ” và ghi dòng chữ số “Hạnh 0793939433 Quảng Ngãi BÀ ĐẠT”; 01 (một) vỏ bao ni lông màu vàng - trắng, bị xé rách có ghi dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 03 (ba) vỏ bao ni lông màu vàng, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 01 (một) túi ni lông màu đỏ, đã bị xé rách; 01 (một) túi ni lông màu xanh - trắng, đã bị xé rách; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - trắng, đã bị xé rách; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - đỏ, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “nabati”;01 (một) túi giấy màu xanh có chữ “Sanest”, bên trong có nhiều túi ni lông màu trắng, rỗng là vật chứng không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, số khung: RLCUE3710MY231144, số máy: E32VE-422154, gắn biển kiểm soát 76B1-718.23 là xe mô tô của Mai Văn D cho Nguyễn Tấn Q sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 02 (hai) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen là điện thoại của Nguyễn Tấn Q và Mai Văn D mang theo trên người để thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 (một) loa màu đen; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB số 4089041050834415, mang tên “NGUYEN NGOC H”; 01 (một) đèn chiếu màu đen; 03 (ba) camera hiệu Imou màu trắng, không liên quan đến vụ án, đề nghị trả lại cho Nguyễn Ngọc H.

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.000.000 (một triệu đồng) là tiền của Nguyễn Tấn Q không liên quan đến vụ án, đề nghị trả lại cho Nguyễn Tấn Q.

Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn Q: Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo không có chỗ ở ổn định và được Nguyễn Ngọc H cho ở tại phòng trọ của H không lấy tiền, nên Nguyễn Ngọc H nhờ bị cáo vận chuyển ma túy giúp H thì bị cáo đồng ý; ngoài ra, 0,33 gam ma túy loại MDMA thu giữ tại phòng trọ, đây là số ma túy bị cáo Q mang từ quán karaoke về nH do số ma túy này bị hư nên bị cáo vứt vào sọt rác chứ không sử dụng; bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét xử bị cáo Nguyễn Tấn Q với mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử.

Lời bào chữa của Luật sư Trần Thị H cho bị cáo Mai Văn D: Hành vi của bị cáo Mai Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” nên thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo Mai Văn D phạm tội với vai trò thứ yếu; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 15 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên khi được cho ăn, ở và sử dụng ma túy thì bị cáo bị lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo đạt học sinh giỏi, xuất sắc các năm học cấp một, lên cấp hai từ lớp 06 đến lớp 08 bị cáo đạt học sinh tiên tiến; bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời bào chữa của ông Trần Việt Ng cho bị cáo Mai Văn D: Thống nhất với phát biểu của Luật sư Trần Thị H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nH vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định.

Tại phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D khai nhận:

Nguyễn Tấn Q và Mai Văn D quen biết với Nguyễn Ngọc H, thấy D và Q không có chỗ ở nên H rủ Q và D đến ở trọ cùng với H và một số người bạn của H tại số nhà 79/8 đường LQĐ, thuộc tổ 3, phường NL, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Q và D khai sáng ngày 10/6/2022, Q và D đang ngủ thì H gọi dậy để đi nhận ma túy cho H. H gọi Q và D vào phòng, đưa cho mỗi người một chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, điện thoại của Q có gắn số thuê bao “0777526871”, điện thoại của D có gắn số thuê bao “0777446871”. Sau đó, H phân công nhiệm vụ cho Q và D như sau: Quyền có nhiệm vụ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1- 718.23 của D đi vào điểm nhận hàng của nhà xe TT để nhận ma túy. Còn D đi xe taxi đến phía Bắc cầu Sông Vệ cũ đứng đợi Q. Sau khi Q nhận ma túy xong sẽ đi ra chỗ D đứng đợi sẵn và lên xe taxi cầm theo gói ma túy về nhà trọ, còn D sẽ đi xe mô tô biển kiểm soát 76B1-718.23 về nhà trọ. Sau khi H phân công nhiệm vụ, Q và D đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1- 718.23 đi trước, còn D, H và T lên xe taxi đi sau, khi xe taxi đến quán cà phê AH ở khu Ngọc Bảo Viên thì H và T xuống xe, Dự tiếp tục ngồi trên xe đi đến cầu Sông Vệ cũ.

Khi Q đến điểm giao hàng của nhà xe TT để nhận thùng hàng có chứa ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ngãi kiểm tra 01 (một) thùng hàng bằng giấy carton, bên ngoài quấn băng keo màu vàng - đen có chữ hàng dễ vỡ, trên thùng hàng có ghi chữ màu đen “H 0793939433 Quảng Ngãi Bà Đạt”. Quyền khai nhận bên trong thùng hàng có chứa ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tấn Q. Tại bản Kết luận giám định số 556/KL- KTHS, ngày 17/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận bên trong thùng hàng có chứa 150 gam ma túy loại Ketamine và 196,12 gam ma túy loại MDMA.

Sau khi bắt quả tang, thì Quyền khai nhận Mai Văn D đã thuê taxi đứng đợi Q tại khu vực cầu Sông Vệ cũ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra tại khu vực cầu Sông Vệ cũ, phát hiện Mai Văn D đang ngồi trên xe taxi đợi Q đến. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi mời D về trụ sở Công an xã ĐN, huyện M để làm việc, quá trình làm việc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tấn Q và thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Tấn Q 01 (một) mảnh giấy màu trắng, bên trong có 01 (một) viên nén màu xanh hình trụ tròn (Tại bản Kết luận giám định số 556/KL- KTHS, ngày 17/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: 0,33 gam ma túy loại MDMA), Q khai nhận, trước thời điểm bị bắt Q đến quán Karaoke TT2 sử dụng ma túy, còn dư 01 (một) viên ma túy kẹo nên gói vào tờ giấy đem về phòng trọ cất giấu sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Tấn Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nH Nguyễn Tấn Q đã nhận và vận chuyển trái phép 150 gam ma túy loại Ketamine và 196,12 gam ma túy loại MDMA; ngoài ra, Nguyễn Tấn Q còn có hành vi tàng trữ 0,33 gam ma túy loại MDMA tại phòng trọ của mình. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần tuyên phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Bị cáo Mai Văn D có khả năng nhận thức và biết được hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nH khi được phân công đi vận chuyển trái phép ma túy cùng Nguyễn Tấn Q bị cáo đã đồng ý, bị cáo đưa xe mô tô của mình cho Nguyễn Tấn Q đi nhận vận chuyển ma túy; còn bị cáo đi taxi đến cầu Sông Vệ đứng đợi Q vận chuyển ma túy đến, để Q tiếp tục lên xe taxi vận chuyển ma túy về phòng trọ tránh sự phát hiện của Cơ quan Công an, còn bị cáo điều khiển xe mô tô của mình về sau. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Tấn Q về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và truy tố Mai Văn D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D:

- Bị cáo Nguyễn Tấn Q: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 29/9/2021, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân huyện BT xử phạt tiền 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới (ngày 10/6/2022) Nguyễn Tấn Q vẫn chưa chấp hành xong bản án. Do đó, lần phạm tội này của Quyền thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Mai Văn D: Không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D: Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Tấn Q tham gia nghĩa vụ quân sự và được tặng giấy khen; bị cáo Mai Văn D trong quá trình học tập ở cấp một đạt thành tích học sinh giỏi, xuất sắc và cấp hai đạt học sinh tiên tiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng cho các bị cáo.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

- Đối với Nguyễn Ngọc H: Theo khai nhận của Mai Văn D và Nguyễn Tấn Q thì H là người phân công Q và D đi nhận ma túy mang về cho H; tuy nhiên quá trình điều tra, H phủ nhận toàn bộ lời khai của Q và D về vai trò đồng phạm của H trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã áp dụng các biện pháp điều tra (đối chất, giám định trích xuất hình ảnh camera,…) thu thập chứng cứ, chưa có đủ căn cứ để xác định H đồng phạm với Q và D trong vụ án như lời khai của Q và D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của H khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

- Đối với số ma túy mà các bị cáo vận chuyển: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành xác minh số điện thoại của 0793939433 ghi trên thùng hàng chứa ma túy, qua xác minh xác định chủ sở hữu thuê bao là Công ty TNHH Thiết kế Xây dựng ASPLUS có địa chỉ tại phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, quá trình xác minh nhận thấy Công ty TNHH Thiết kế Xây dựng ASPLUS không liên quan đến việc gửi ma túy cho các bị cáo nên không đề cập xử lý.

- Đối với đối tượng cung cấp ma túy cho các bị cáo: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên;

- 01 (một) phong bì niêm phong số 556/KTHS(GĐ-2022); bên ngoài có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc Ch, Phùng Đức Qu; bên trong chứa 194,50 gam mẫu ma túy, loại MDMA và 148,50 gam mẫu ma túy loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành, nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) giấy phép lái xe số 510133001408, mang tên “Nguyễn Tấn Q” không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho Nguyễn Tấn Q.

- 01 (một) thẻ căn cước công dân số 051206010839, mang tên “Mai Văn D” không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho Mai Văn D.

- 01 (một) thùng giấy carton, bên ngoài dán băng keo màu vàng - đen, trên băng keo có dòng chữ “HÀNG DỄ VỠ” và ghi dòng chữ số “Hạnh 0793939433 Quảng Ngãi BÀ ĐẠT”; 01 (một) vỏ bao ni lông màu vàng - trắng, bị xé rách có ghi dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 03 (ba) vỏ bao ni lông màu vàng, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 01 (một) túi ni lông màu đỏ, đã bị xé rách, bên ngoài có ghi dòng chữ “Roma Malkist Crackers”; 01 (một) túi ni lông màu xanh - trắng, đã bị xé rách bên ngoài có dòng chữ “Roma Malkist Kelapa Kopyer”; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - trắng, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “Gery Cheese Crackers”; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - đỏ, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “nabati”; 01 (một) túi giấy màu xanh có chữ “Sanest”, bên trong có nhiều túi ni lông màu trắng, rỗng là vật chứng không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, số khung: RLCUE3710MY231144, số máy: E32VE-422154, gắn biển kiểm soát 76B1-718.23 là xe mô tô của Mai Văn D cho Nguyễn Tấn Q mượn sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3 2009445, bên ngoài đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của Nguyễn Phương Đ, Vy Cao Th, Phùng Đức Qu, bên trong có 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 355043871497384, số Imeil 2: 355043873497353, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833519586 và 01 (một) túi niêm phong có mã số PS3 2009446, bên ngoài đóng dấu giáp lai của phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của Nguyễn Phương Đ, Vy Cao Th, Phùng Đức Q, bên trong có 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 355043871497096, số Imeil 2: 355043873497094, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833519585; đây là điện thoại của Nguyễn Tấn Q và Mai Văn D mang theo trên người để thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 (một) loa màu đen trên loa có chữ “harman/Kardon”; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB số 4089041050834415, mang tên “NGUYEN NGOC HUNG”; 01 (một) đèn chiếu màu đen có chữ “K10”, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho Nguyễn Ngọc H.

- 01 (một) túi niêm phong có mã số: PS2 2007905, bên ngoài có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Vy Cao Thuyết, Nguyễn Phương Đ, Phùng Đức Qu, bên trong có 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 7H08213PAZA1BED, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 64GB; 01 (một) túi niêm phong có mã số: PS2 2007904, bên ngoài có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Vy Cao Th, Nguyễn Phương Đ, Phùng Đức Qu, bên trong có 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 77K0A10DPAZ6E5A8, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 32GB; 01 (một) túi niêm phong có mã số: PS2 041533, bên ngoài có đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Vy Cao Th, Nguyễn Phương Đ, Phùng Đức Qu, bên trong có 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 7L070DBAZ5D80F, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 32GB; không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho Nguyễn Ngọc H.

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.000.000 (một triệu đồng) là tiền của Nguyễn Tấn Q không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho Nguyễn Tấn Q.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư Phan Thị Bích X, Luật sư Trần Thị H, ông Trần Việt Ng được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Q 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Q 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 22 (Hai mươi hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 10/6/2022).

2. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Mai Văn D 06 (Sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án (Ngày 16/8/2023).

Căn cứ khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử Quyết định bắt, tạm giam bị cáo Mai Văn D tại phiên tòa để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên;

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số 556/KTHS(GĐ-2022); bên ngoài có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh và chữ ký của Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc Ch, Phùng Đức Qu; bên trong chứa 194,50 gam mẫu ma túy, loại MDMA và 148,50 gam mẫu ma túy, loại Ketamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định.

+ 01 (một) thùng giấy carton, bên ngoài dán băng keo màu vàng - đen, trên băng keo có dòng chữ “HÀNG DỄ VỠ” và ghi dòng chữ số “H 0793939433 Quảng Ngãi BÀ ĐẠT”; 01 (một) vỏ bao ni lông màu vàng - trắng, bị xé rách có ghi dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 03 (ba) vỏ bao ni lông màu vàng, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “ORION BÁNH NƯỚNG GẠO NƯỚNG AN VỊ TỰ NHIÊN”; 01 (một) túi ni lông màu đỏ, đã bị xé rách, bên ngoài có ghi dòng chữ “Roma Malkist Crackers”; 01 (một) túi ni lông màu xanh - trắng, đã bị xé rách bên ngoài có dòng chữ “Roma Malkist Kelapa Kopyer”; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - trắng, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “Gery Cheese Crackers”; 01 (một) hộp giấy carton màu vàng - đỏ, đã bị xé rách, bên ngoài có dòng chữ “nabati”; 01 (một) túi giấy màu xanh có chữ “Sanest”, bên trong có nhiều túi ni lông màu trắng, rỗng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, số khung: RLCUE3710MY231144, số máy: E32VE-422154, gắn biển kiểm soát 76B1-718.23.

+ 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 355043871497384, số Imeil 2: 355043873497353, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833519586 và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 355043871497096, số Imeil 2: 355043873497094, bên trong thân máy có gắn 01 thẻ sim Mobifone có dãy số 8401210833519585.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn Q: 01 (một) giấy phép lái xe số 510133001408, mang tên “Nguyễn Tấn Q”.

- Trả lại cho bị cáo Mai Văn D: 01 (một) thẻ căn cước công dân số 051206010839, mang tên “Mai Văn D”.

- Trả lại cho Nguyễn Ngọc H: 01 (một) loa màu đen trên loa có chữ “harman/Kardon”; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng MB số 4089041050834415, mang tên “NGUYEN NGOC H”; 01 (một) đèn chiếu màu đen có chữ “K10”; 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 7H08213PAZA1BED, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 64GB; 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 77K0A10DPAZ6E5A8, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 32GB; 01 camera hiệu Imou màu trắng, có số S/N: 7L070DBAZ5D80F, trên thân camera có gắn 01 thẻ nhớ hiệu Sandisk, dung lượng 32GB.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/7/2023 giữa Công an tỉnh Quảng Ngãi và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn Q: Số tiền 1.000.000 đồng. Hiện nay số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đang được gửi tại tài khoản số 3949.0.1054192.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.

(Theo Uỷ nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 12/7/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi và Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi).

4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV “Quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Mai Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ