vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 15/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn N (tên gọi khác: Dĩnh) 01 (một) năm tù 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 11/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại tài sản về giữa bị cáo Lê Văn N và chị Nguyễn Thị Hồng H2, anh Nguyễn Quốc H1, anh Hồ Ngọc N1. Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn N (tên gọi khác: Dĩnh) 01 (một) năm tù 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 11/9/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày: 15 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH -TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo

Ông Trương Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Qúy Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 58/2023/TLST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXX-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn N (tên gọi khác: D), sinh năm: 1992 tại V - Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Lê Thanh Đ, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T, sống chung như vợ chồng với Đỗ H và có 01 con chung sinh năm 2013. Tiền án: không, Tiền sự: Bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 45/QĐ-TA ngày 11/12/2019. Ngày 28/8/2021, Lê Văn N chấp hành xong.

Nhân thân:

Bị Toà án nhân dân huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo Bản án số 32/2016/HSST ngày 20/6/2016. Ngày 22/3/2019, Lê Văn N chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/7/2017 đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm.

Bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo Bản án số 53/2023/HSST ngày 24/11/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/9/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc H1 – sinh năm: 2002; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Hồng H2 – sinh năm 1983; trú tại: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Anh Hồ Ngọc N1 – sinh năm 1988; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Biện Thị N2 - sinh năm: 1979; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Chị Huỳnh Thị Kim Q - sinh năm: 1990; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Quốc H1 mượn xe mô tô biển số 79VA-023.61 của chị Nguyễn Thị Hồng H2 để đi. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/6/2023, H1 dựng xe trong sân nhà bà Biện Thị N2 tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa rồi vào nhà.

Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, Lê Văn N đi bộ một mình đến thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Khi đi ngang qua nhà bà Biện Thị N2, N thấy mô tô biển số 79VA-023.61 để ở sân, cửa cổng không khoá, không người trông coi. Niên nảy sinh ý định trộm cắp, rồi lén lút đi vào sân nhà bà N2, dắc xe mô tô đi ra đường. Sau đó, N phá khoá làm cho xe nổ máy, rồi điều khiển xe chạy vào thị trấn V để bán nhưng không bán được. Niên ngủ lại ở nhà hoang tại thị trấn V.

Đến 07 giờ 00 phút ngày 16/6/2023, N điều khiển xe mô tô đến cơ sở thu mua phế liệu tại thôn P, xã V gặp anh Hồ Ngọc N1 để bán xe. Anh N1 hỏi “ Xe của ai, có giấy tờ không”, N nói “Xe của N đã mất giấy tờ và chìa khoá, nhà ở gần đây”. Nam tin lời N nói rồi thoả thuận giá mua bán xe là 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng). Anh N1 giao tiền cho N xong, N để xe lại rồi bỏ đi về. Niên đã tiêu xài hết số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng). Ngày 11/9/2023, Lê Văn N bị bắt tạm giam.

Tại Kết luận định giá tài sản số 624/KL.TCKH.TTHS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 xe mô tô, nhãn hiệu VIETTHAI, loại Sirus FCX, biển số đăng ký 79VA-023.61, màu sơn đỏ đen, dung tích xi lanh 49, trị giá 13.410.000đ (mười ba triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 48/CT-VKSVN, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa:

+ Bị cáo Lê Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo và anh Nguyễn Quốc H1, chị Nguyễn Thị Hồng H2, anh Hồ Ngọc N1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa tuy vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, nhưng bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của họ và đồng thời lời khai của họ đã có tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 15/6/2023, tại nhà của bà Biện Thị N2 thuộc thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Lê Văn N đã lét lút trộm cắp xe mô tô biển số 79VA-023.61 của anh Nguyễn Quốc H1, gây thiệt hại về tài sản là 13.410.000 đồng. Do đó, bản Cáo trạng số 48/CT-VKSVN, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Lê Văn N theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có cơ sở và đúng các quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương.

Mặc dù bị cáo không có tiền án nhưng về tiền sự thì có 01 tiền sự (bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 45/QĐ-TA ngày 11/12/2019). Về nhân thân, bị Toà án nhân dân huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án số 32/2016/HSST ngày 20/6/2016), bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” (Bản án số 53/2023/HSST ngày 24/11/2023). Chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, không chăm lo làm ăn lương thiện, thích hưởng thụ bằng tài sản, công sức của người khác, coi thường kỷ cương pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm rèn luyện, cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Quốc H1 vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai của anh H1 có tại hồ sơ vụ án thì anh H1 không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng H2 vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai của chị H2 có tại hồ sơ vụ án thì chị H2 không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hồ Ngọc N1 vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai của anh N1 có tại hồ sơ vụ án thì anh N1 không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Lê Văn N.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn N (tên gọi khác: Dĩnh) 01 (một) năm tù 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 11/9/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại tài sản về giữa bị cáo Lê Văn N và chị Nguyễn Thị Hồng H2, anh Nguyễn Quốc H1, anh Hồ Ngọc N1.

- Về án phí: Bị cáo Lê Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ