- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Phương N - phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phƣơng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS - ST Ngày: 14/11/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm;
Ông Nguyễn Ngọc Phan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Phƣơng N, sinh năm 2000; Nơi cƣ trú: Tổ dân 4, thị trấn Cát B, huyện Cát H, T.P Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đvà bà Trần Thị T; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/8/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Ngƣời đƣợc uỷ quyền: Anh Phạm Huy P, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977 và ông Bùi Văn Huân, sinh năm 1977; Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân Phạm Phƣơng N thƣờng đăng nhập vào ứng dụng facebook bằng tài khoản “Đời không như mơ” và tham gia vào nhóm “Tobacco Hải Phòng” mục đích mua ma tuý Tobacco về bán kiếm lời.
Khoảng 11 giờ ngày 06/8/2023, một ngƣời Nam không quen biết sử dụng tài khoản facebook tên “Gia đình số một” nhắn tin đến tài khoản facebook “Đời không như mơ” của Nam, hỏi mua 500.000 đồng ma tuý, loại Tobacco và bảo Nam mang đến khu vực cây xăng Quý Cao, cạnh đƣờng quốc lộ 10 thuộc địa phận xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giao hàng, Nam đồng ý. Nam đã liên lạc với ngƣời có tài khoản facebook “Trần Ngọc Bảo Vy” đặt mua 200.000 đồng ma tuý loại Tobacco, ngƣời này đồng ý bán và gửi xe khách về cho Nam đồng thời cho số điện thoại của phụ xe để Nam liên hệ nhận ma tuý. Nam kết bạn zalo với phụ xe, liên lạc với phụ xe hẹn sang hôm sau sẽ nhận ma tuý. Khoảng 06 giờ ngày 07/8/2023, Nam điều khiển môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade BKS 15B4-252.52 đến khu vực phƣờng Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, T.P Hải Phòng để nhận ma tuý. Khi đến nơi, Nam đƣợc một thanh niên không quen biết đƣa cho 01 hộp giấy cát tông, Nam đƣa cho ngƣời này 200.000 đồng tiền mua ma tuý và 50.000 đồng là chi phí vận chuyển. Nam mở hộp cát tông, bên trong có 08 túi nilon màu trắng có kích thƣớc 7x4cm, bên trong chứa các sợ thực vật màu nâu vàng là ma tuý loại Tobacco. Nam lấy 08 túi màu trắng cho vào 01 túi nilon màu đen dạng túi rút của Nam treo cạnh võng xe, còn vỏ hộp Nam vứt đi. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Nam điều khiển mô tô loại xe Airblade BKS 15B4- 252.52 mang theo 08 gói ma tuý đến khu vực cây xăng Quý Cao thuộc địa phận xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ để bán ma tuý cho ngƣời có tài khoản facebook “Gia đình số một”. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nam đang đỗ xe ở lề đƣờng đối diện cây xăng Quý Cao chờ ngƣời mua ma tuý đến thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện, thu giữ 08 túi ni lon màu trắng kích thƣớc 6,9 x4,1cm bên trong có chứa các sợi thực vật màu nâu vàng, Nam khai nhận là ma tuý loại Tobacco.
Tại bản kết luận giám định số 5903/KL-KTHS, ngày 10/8/2023 của Viện khoa học Hình sự bộ Công an kết luận: Tìm thấy chất ma tuý loại ADB-BUTINACA trong mẫu các sợi màu nâu vàng (dạng sợi thực vật) gửi giám định, tổng khối lƣợng 17,768 gam.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-TK, ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phạm Phƣơng N ra trƣớc toà để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Phạm Phƣơng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Phạm Phƣơng N từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy số ma túy đƣợc hoàn lại sau giám định; Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung loại Galaxy A 37 5G của Phạm Phƣơng N; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Phƣơng N đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 16 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023, tại khu vực lề đƣờng đối diện cây xăng thuộc phố Quý Cao, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, Phạm Phƣơng N có hành vi cất giấu 17,768 gam ma túy loại ADB-BUTINACA mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song với mục đích muốn kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số ma túy là loại loại ADB-BUTINACA mà bị cáo đã tàng trữ với mục đích để bán có tổng khối lƣợng là 17,768 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS, VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử về tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe của chính ngƣời sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì muốn kiếm lời và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định chất ma tuý loại ADB-BUTINACA là vật cấm lƣu hành; vỏ bao gói mẫu không còn giá trị và sim điện thoai số 0867.457.371 của Phạm Phƣơng N dùng liên lạc mua bán ma tuý cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung loại Galaxy A 37 5G của Phạm Phƣơng N dùng liên lạc mua bán ma tuý là của bị cáo cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nƣớc.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade BKS 15B4- 252.52 là phƣơng tiện Nam dùng để đi mua ma túy, qua điều tra xác định chiếc xe là của ông Phạm Văn Đvà bà Trần Thị T là bố mẹ đẻ của bị cáo mua, đăng ký tên bị cáo đề tiện cho bị cáo làm phƣơng tiện đi làm. Ngày 20/10/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho ông Đông.
Đối với ngƣời sử dụng tài khoản Facebook tên “Trần Ngọc Bảo Vy” bán ma tuý cho Nam; ngƣời phụ xe khách giao ma tuý cho Nam; ngƣời đặt mua ma tuý của Nam có tài khoản “Gia đình số một”, Nam không biết tên, địa chỉ của những ngƣời này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phƣơng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Phƣơng N 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy, loại ADB-BUTINACA đƣợc hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu đƣợc đựng trong phong bì niêm phong, 01 sim điện thoai số 0867.457.371 của Phạm Phƣơng N. Tịch thu phát mại 01 điện thoại Galaxy A37 5G vỏ màu xám của Phạm Phƣơng N.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phạm Phƣơng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đàm Nhân Trác
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKS, CA, THADS huyện Tứ Kỳ; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dƣơng; - Lƣu hồ sơ; Lƣu vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Nhân Trác |