- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn H, cố ý gây TT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HS-ST Ngày 20 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vy Văn Lâm và bà Nguyễn Tố Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 02/2023/TB-TA ngày 26/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/HSST-QĐ ngày 10/7/2023, đối với bị cáo:
Phan Văn H, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1983 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A1, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T, sinh năm 1952 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1956; vợ: Triệu Thị N, sinh năm 1983; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 21/12/2018, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép pháo, đã thi hành xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/02/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Mạnh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Văn L, Luật sư Văn phòng Luật sư B – Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Số 03, N 1, X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Phan Văn B, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn A1, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1986. Vắng mặt.
2. Anh Phan Văn H1, sinh năm 1984. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn B, sinh năm 1987, trú tại thôn A1, xã H và Vũ Mạnh T, sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã X cùng huyện L, tỉnh Bắc Giang đều là lái xe cho Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại N có trụ sở tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2022, Phan Văn B điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98H-027.49 kéo rơ moóc biển kiểm soát 35R-014.14 đến khu đồi nhà ông Đỗ Mạnh T, sinh năm 1960 ở thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn để chở đất. Đến nơi, B thấy xe ô tô biển kiểm soát 98C-147.44 kéo rơ moóc biển kiểm soát 98R-028.10 do Vũ Mạnh T điều khiển đang đỗ cách máy xúc khoảng 300m nên B điều khiển xe ô tô vào lấy đất trước dẫn đến B và T cãi nhau.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi chở đất về huyện L đổ xong, B quay lại để chở chuyến tiếp theo, trên đường đi B đón anh trai là Phan Văn H đi cùng với mục đích để H học đổ ben. Khi đến nơi lấy đất, B thấy xe ô tô do Phan Văn H, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đến trước đang đợi đến lượt. B đỗ xe xuống nói chuyện với Phan Văn H1 còn Phan Văn H vẫn ngồi trên giường phía sau ghế trong ca bin.
Ngay sau đó, Vũ Mạnh T cũng điều khiển xe ô tô đến đỗ phía sau xe B, thấy B đang đứng ở khu vực gần đầu xe ô tô, T xuống xe đi về phía B nói chuyện thì T và B xảy ra xô xát đánh nhau dẫn đến cả hai bị trượt ngã theo tà ly xuống bãi đất phía dưới vật lộn nhau ở đó. Phan Văn B bị đau nên kêu lên gọi “anh H ơi nó đánh em”, Phan Văn H thấy B và T xô xát đẩy nhau ngã xuống tà ly rồi nghe tiếng kêu và gọi của B thì H nhìn thấy trên sàn xe chỗ ghế phụ có sẵn con dao có tổng chiều dài khoảng 40cm, chuôi B nhựa, lưỡi dao có bản rộng khoảng 05cm – 06 cm, mũi dao hơi nhọn thì cầm lấy chạy xuống chỗ B và T đang vật nhau, thấy chân T đang kẹp lấy người B, H dùng tay trái cầm chân T kéo ra, tay phải cầm dao chém nhiều nhát vào cả hai chân của T. B đứng dậy, nhìn thấy H đang cầm dao B kéo H đi không cho chém T nữa. T bị thương được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang điều trị thương tích.
Phan Văn B điều khiển xe ô tô đi về còn Phan Văn H khai nhận cầm dao chạy bộ ra quốc lộ 1A, trên đường đi H vứt dao vào bãi đất ven đường, sau đó đi nhờ xe về huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1155/TgT và số 1157/TGT cùng ngày 06/01/2023 của Trung tâm Pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Phan Văn B là 0%. Của Vũ Mạnh T hiện tại là 6% bao gồm: thương tích vết thương đã khâu đang liền sẹo mặt ngoài 1/3 dưới đùi trái 02%; thương tích vết thương đã khâu đang liền sẹo mắt cá ngoài chân trái 01%; hai vết thương đã khâu liền sẹo mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân phải 02%; thương tích vết sẹo vành tai trái 01%. Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên; chưa đánh giá cận động khớp gối trái do đang điều trị.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 1217/23/TgT ngày 08/02/2023 của Trung tâm Pháp y – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Thương tích tại gối trái của Vũ Mạnh T là 11%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Vũ Mạnh T hiện tại là 11% + 06% = 16%. Cơ chế vật gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên.
Vật chứng cơ quan điều tra đã làm rõ:
- 01 chiếc quần bò màu xám đen hai ống quần đã bị cắt rời, phần dài nhất 52cm, rộng 48cm, mặt sau bám dính nhiều tạp chất màu nâu vàng; 01 mảnh vải quần bò (ống quần) màu xám đen dài 46cm, phần gấu quần rộng 34cm, đầu còn lại rộng 42cm; có 02 vết rách nằm song song cách nhau 04cm trong đó 01 vết dài 01cm, một vết dài 1,5cm; 01 mảnh vải quần bò (ống quần) màu xám đen phần gấu quần rộng 23cm, đầu còn lại rộng 42cm; có 01 vết rách dài 05cm là của Vũ Mạnh T.
- 03 chiếc giày thể thao, trong đó 01 chiếc chân bên phải màu xanh – đen – trắng là của Vũ Mạnh T; 01 chiếc chân bên phải và 01 chiếc chân bên trái màu trắng – đen có chữ NIKEZOOM là của Phan Văn H.
Các vật chứng trên hiện đang còn tạm giữ.
Đối với con dao Phan Văn H sử dụng gây thương tích cho Vũ Mạnh T, H khai đã vứt dao vào bãi đất cạnh đường, cơ quan điều tra đã truy tìm nH không thu giữ được.
Về dân sự: Vũ Mạnh T yêu cầu Phan Văn H và Phan Văn B phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tổn thất tinh thần và mất thu nhập những ngày điều trị và mất thu nhập của người phục vụ với tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Phan Văn H chỉ đồng ý bồi thường 50.000.000 đồng và đã bồi thường cho Vũ Mạnh T. Vũ Mạnh T yêu cầu Phan Văn H phải bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng. Ngày 17/7/2023, bị cáo Phan Văn H đã bồi thường tiếp cho anh Vũ Mạnh T số tiền là 90.000.000 đồng, tổng số tiền bị cáo đã bồi thường cho bị hại là 130.000.000 đồng. Bị hại anh Vũ Mạnh T đã đồng ý với mức bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.
Đối với Phan Văn B khi vật lộn với Vũ Mạnh T có dùng chân tay đánh T nhưng không để lại thương tích; Vũ Mạnh T khai B giữ T cho H chém nhưng ngoài lời khai của T không có căn cứ nào khác để chứng minh.
Đối với việc Vũ Mạnh T dùng chân tay đánh Phan Văn B nhưng không để lại thương tích nên không xử lý.
Đối với thương tích 01% ở vành tai trái của Vũ Mạnh T, không xác định được do ai gây ra.
Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 07/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, bị hại Vũ Mạnh T vắng mặt, có đơn trình bày bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại không còn ý kiến gì thêm về phần dân sự và đề nghị xét xử bị cáo mức án thấp nhất và được hưởng án treo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Vũ Mạnh T tại phiên tòa vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt đã có đề nghị cho bị cáo Phan Văn H mức án thấp nhất và được hưởng án treo để cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, khắc phục hậu quả xảy ra.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận và bồi thường xong số tiền 140.000.000 đồng trước khi mở phiên tòa, bị hại không còn yêu cầu gì khác, nên cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận trên.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng là 01 quần bò và 03 chiếc giày.
Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội, lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã ăn năn hối cải, bị cáo rất xin lỗi bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị hại anh Vũ Mạnh T, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phan Văn B, chị Nguyễn Thị L và người làm chứng anh Hoàng Văn H và anh Phan Văn H1 vắng mặt không có lý do. Lời khai của những người vắng mặt tại cơ quan điều tra đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử do đó căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 27/12/2022, tại bãi đất nhà ông Vũ Mạnh T ở thôn B, xã M, huyện H, Phan Văn B và Vũ Mạnh T do có mâu thuẫn trong việc xếp xe chờ lấy đất dẫn đến xo xát đánh nhau. Phan Văn H là anh trai của Phan Văn B thấy vậy đã dùng con dao có tổng chiều dài khoảng 40cm, lưỡi dao có bản rộng khoảng 05cm – 06cm, mũi dao hơi nhọn chém gây tổn thương cơ thể của Vũ Mạnh T là 16%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo phải xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép pháo năm 2018, đã thi hành xong nên xác định bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Vũ Mạnh T số tiền 140.000.000 đồng để khắc phục hậu quả xảy ra, bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Trên cơ sở xem xét, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Vũ Mạnh T số tiền 140.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường. Xét thấy, việc thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện nên cần ghi nhận sự thỏa thuận trên.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong bên trong đựng 01 quần bò; 03 chiếc giày do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung công quỹ nhà nước, theo quy định tại khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích.
2. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/7/2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Phan Văn H với bị hại Vũ Mạnh T về việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 140.000.000 đồng.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) túi niêm phong chuyên dụng mã số NS12012000 đã được niêm phong dán kín, bên trong đựng: 01 chiếc quần bò, màu xám-đen, hai ống quần đã bị cắt rời, phàn dài nhất là 52cm, rộng 48cm, mặt sau bám dính nhiều tạp chất màu nâu-vàng (đất). 01 (một) mảnh vải quần bò, màu xám đen, bị ướt, dài 46cm, phần gấu quần rộng 34cm, đầu còn lại rộng 42cm. Có một vết rách dài 01cm, đầu dưới vết rách cách gấu quần 28cm. Có một vết rách dài 1,5cm, đầu dưới vết rách cách gấu quần 29cm, hai vết rách nằm song song, cách nhau 04cm. 01 (một) mảnh cải quần bò, màu đen-xám, bị ướt, phần gấu quần rộng 23cm, đầu còn lại rộng 42cm. Có một vết rách dài 05cm, đầu dưới vết rách cách gấu quần 26cm, vết rách nằm chéo trên đường chỉ quần.
- 03 (ba) chiếc giày gồm: 01 (một) chiếc dày bên trái. 01 (một) chiếc giày thể thao màu đen-trắng, giày chân bên phải, mặt ngoài bên phải đế giày có chữ “NIKE ZOOM”. 01 (một) chiếc giày thể thao, màu xanh-đen-trắng, giày chân bên phải.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2023 giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn)
5. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyết |