vanban.org

Bản án 58/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Q.Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Q.Th 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Th cho Ủy ban nhân dân Thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Q. Th phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Q.Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HS-ST
Ngày 06-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hòa Nhẫn;

2. Ông Nguyễn Văn Tẻo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2023/TLST-HS ngày 31-5-2023 đối với bị cáo:

Đỗ Q.Th, sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp B, xã TB, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ H.N và bà Nguyễn Thị H; Anh ruột: Có 01 người; Vợ: Ngô Thị BT; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17-4-2023, đến ngày 04/5/2023 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Trần A. T, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Ấp T xã LT, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 05/02/2023, Đỗ Q.Th đang hành nghề tài xế đưa rước khách tại khu vực gần Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài thuộc ấp T xã LT, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thì thấy Trần A. T, sinh năm 1983, ngụ ấp T xã LT, huyện Bến Cầu và Phan ML, sinh năm 2000, ngụ ấp A1, xã T, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đang dẫn 02 người khách nữ đi đến. Lúc này, Th tranh giành khách của T và L nên xảy ra mâu thuẫn gây gổ nhau, Th hẹn T, L đến đầu đường Quốc lộ 22 giáp cổng ra vào cửa khẩu Mộc Bài để đánh nhau thì T, L đồng ý. Th chạy bộ đến quán nước giải khát của Lương CL, sinh năm 1983, ngụ ấp Bàu Tép, xã Tiên Th, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh (Kiot số 02 thuộc ấp T xã LT, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh) lấy 01 con dao lưỡi kim loại dài 20 cm chạy về hướng cổng ra vào cửa khẩu Mộc Bài thì gặp L1 và Ngô Văn M, sinh năm 1985, ngụ ấp H, xã LT, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Th kể cho L1, M biết việc hẹn T, L đánh nhau thì L1, M can ngăn và giật lấy con dao cất giấu. Nguyễn Thành V, sinh năm 1992 và Cao PL, sinh năm 1989 cùng ngụ Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh đang hành nghề xe ôm gần đó nghe nói Th hẹn đánh nhau với T, L ở đầu đường Quốc lộ 22 giáp cổng ra vào cửa khẩu Mộc Bài nên V, L3 chạy đến bênh vực Th. Đến nơi, V, L3 thấy T, L đang đưa khách lên xe ô tô thì V la chửi T và L, còn L3 đứng xem thì L1, M, Th đi bộ đến, T la chửi lại và thách thức đánh nhau thì L1 xông vào dùng tay phải kẹp cổ của T quật ngã xuống đường rồi dùng tay đánh vào mặt, vai của T, ngay lúc đó Th, M, V, L3 cũng xông vào dùng tay, chân đánh, đá vào lưng, đầu, mặt của T gây chấn thương phần mềm, sự việc đánh nhau trong khoảng 02 phút thì được mọi người can ngăn nên không đánh nhau nữa. Lúc này, L1, M, V, L3 bỏ đi, còn Th đến quán nước của L1 ngồi uống nước. Khoảng 05 phút sau, T nhặt cục đá ở cặp đường cầm trên tay chạy đến quán của L1 thì thấy Th đang ngồi một mình, T đứng đối diện định đánh Th thì Th đứng dậy hai tay cầm ghế xếp bằng kim loại màu trắng, vải bố màu đen, kích thước 67cm x 41cm, trọng lượng 1,5kg đưa lên khỏi đầu đánh 01 cái từ trên xuống, T đưa tay trái lên đỡ thì phần cạnh của đoạn kim loại nẹp chân ghế trúng vào cẳng tay trái của T gây thương tích. Sau khi được can ngăn, T được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á-Tây Ninh điều trị, đến ngày 10/02/2023 xuất viện. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Q.Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngày 06/02/2023, Trần A. T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 49/KLTTCT-TTPYTN ngày 06/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 vết sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước trung bình. Cơ chế hình thành thương tích: trực tiếp. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần A. T do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm).

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) ghế xếp kim loại màu trắng, vải bố màu đen, kích thước 67 cm x 41 cm, trọng lượng 1,5 kg, đã qua sử dụng.

* Về bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra anh Trần A. T không yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa anh T yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và tiền ăn uống trong quá trình điều trị với số tiền 13.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền nêu trên cho anh T.

Tại bản cáo trạng số: 57/CT-VKSBC ngày 29 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Đỗ Q.Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Q.Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Ghi nhận bị cáo Th đồng ý bồi thường cho anh Trần A. T số tiền 13.000.000 đồng.

Tại phiên toà: Bị cáo thống nhất luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.

Ý kiến của bị hại: Không trình bày ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ chấp hành tốt quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và những người liên quan khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Qua điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Q.Th thừa nhận: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 05/02/2023, tại khu vực ấp T xã LT, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Do có mâu thuẫn, xô xát trước đó và bị anh Trần A. T cầm đá có ý định đánh trước nên bị cáo Đỗ Q.Th dùng ghế xếp bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh 01 cái trúng vào cẳng tay trái anh T gây tổn thương cơ thể 02 (hai phần trăm). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác. Do đó hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã dùng hung khí nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trị an ở địa phương, gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Thành Chua được Chủ tịch nước tặng “Huân chương kháng chiến hạng nhì” vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống M cứu nước; được tặng “Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng” và xét thấy sự việc xảy ra là do một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo Th có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lỗi của bị hại và có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt biết chấp hành pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, mặc dù trong quá trình điều tra không yêu cầu nhưng tại phiên tòa anh Trần A. T yêu cầu bị cáo Th bồi thường chi phí điều trị thương tích và tiền ăn uống trong quá trình điều trị với số tiền 13.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) ghế xếp kim loại màu trắng, vải bố màu đen, kích thước 67 cm x 41 cm, trọng lượng 1,5 kg, đã qua sử dụng là công cụ dùng để phạm tội và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi của Lương CL, Ngô Văn M, Nguyễn Thành V, Cao PL, Đỗ Q.Th dùng tay, chân đánh, đá vào người Trần A. T gây chấn thương phần mềm, trước khi thực hiện hành vi không có sự bàn bạc trước mà chỉ là bộc phát, khi được can ngăn thì tất cả đã bỏ đi và khi Th đánh gây thương tích cho T 02% tại hiện trường chỉ có Th và T nên không đủ cơ sở chứng minh L1, M, V, L3 đồng phạm trong vụ án này nên không đề cập xử lý và Công an huyện Bến Cầu đã ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính xong.

Khi thực hiện hành vi đánh Trần A. T, trong quá trình đến đánh T, hành vi của Lương CL, Ngô Văn M, Nguyễn Thành V, Cao PL, Đỗ Q.Th thời gian diễn ra nhanh chỉ có các đối tượng đánh nhau, không tập trung đông người đến xem, không có hành vi gây rối nên không xem xét xử lý về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Do Hội đồng xét xử kết luận bị cáo có tội, bị kết án và buộc bồi thường nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Q.Th phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Q.Th 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Th cho Ủy ban nhân dân Thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân Thị trấn Bến Cầu trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 590 của Bộ luật Dân sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ghế xếp kim loại màu trắng, vải bố màu đen, kích thước 67 cm x 41 cm, trọng lượng 1,5 kg, đã qua sử dụng.

- Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Th đồng ý bồi thường cho anh Trần A. T số tiền 13.000.000 đồng.

3. Án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Đỗ Q.Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ