vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Trần Quang V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Ngọc C được ly hôn với ông Trần Quang V. Về con chung: Giao con chung tên Trần Nhã U, sinh ngày 18/8/2018 cho bà Tạ Ngọc C được trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà C và ông V tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Trần Quang V.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13/6/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo;

2. Ông Nguyễn Đăng Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 65/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tạ Ngọc C, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 9, ấp 2, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin vắng mặt;

- Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm 1996; thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Hưng Yên; tạm trú: Tổ 1, khu phố H, phường Th, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2023, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tạ Ngọc C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Ngọc C và ông Trần Quang V có thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2018 ngày 28/5/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại tổ 1, khu phố H, phường Th, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Từ tháng 02/2019, bà C đã chuyển về nhà cha mẹ ruột ở xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai sinh sống, ông V vẫn sinh sống tại phường H, vợ chồng cũng ly thân cho đến nay và cả hai đều không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Tạ Ngọc C yêu cầu được ly hôn với ông Trần Quang V.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Nhã U, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn, bà Tạ Ngọc C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tạ Ngọc C tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà Tạ Ngọc C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Trần Quang V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

- Về nội dung vụ án: Bà Tạ Ngọc C và ông Trần Quang V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà C xác định hiện nay vợ chồng không còn sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn ông V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Bà C yêu cầu được nuôi con, xét thấy hiện nay con chung đang sống cùng bà C, bà C có đủ điều kiện nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con, đây là ý chí tự nguyện của bà nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn có đăng ký tạm trú, sinh sống trên địa bàn thành phố T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Tạ Ngọc C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Quang V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Ngọc C và ông Trần Quang V có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2018 ngày 28/5/2018, là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Tạ Ngọc C xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2019 đến nay và hiện tại cả hai đều không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà C xác định không còn tình cảm với ông V và yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông V không đến Tòa án cho thấy ông không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà C kiên quyết xin ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà C yêu cầu ly hôn với ông V là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Nhã U, sinh ngày 18/8/2018. Khi ly hôn, bà Tạ Ngọc C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy, hiện tại cháu Trần Nhã U đang sống cùng bà C nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng tâm lý của trẻ. Ngoài ra, bà C có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho bà C nuôi dưỡng. Bà C không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Ngọc C về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Trần Quang V.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Ngọc C được ly hôn với ông Trần Quang V.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Nhã U, sinh ngày 18/8/2018 cho bà Tạ Ngọc C được trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà Tạ Ngọc C và ông Trần Quang V đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tạ Ngọc C về việc không yêu cầu ông Trần Quang V cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Tạ Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007405 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ