- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16/01/2023 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Tấn Quang
2/ Ông Nguyễn Văn Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận
Tân Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Bà Võ Ngọc Liên Hương -
Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số 935/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc
“Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 456/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12
tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 311/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30
tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Thái Lê Thùy P, sinh năm 1987; Địa chỉ: đường A, phường B,
quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Ninh Đức P, sinh năm 1987 ; Địa chỉ: đường X, phường Y, quận Z,
Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đơn Phly hôn ngày 26/9/2022 và quá trình tố tụng nguyên đơn, bà
Thái Lê Thùy P trình bày: Bà và ông Ninh Đức P tự nguyện chung sống từ năm 2011, có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153, quyển số 01/2011 cấp ngày 08/8/2011. Sau khi kết
hôn, vợ chồng sống địa chỉ đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá
trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do ông P không có trách nhiệm với vợ con, chơi game bắn cá gây nợ nần.
Khoảng tháng 05/2021, vợ chồng mâu thuẫn nghiêm trọng nên bà về sinh sống tại nhà cha
mẹ ruột tại phường 15, quận 10. Sau nhiều năm chung sống và đã cho ông P cơ hội sửa
chữa khuyết điểm nhưng cho đến nay cũng không có kết quả. Nay bà xác định không còn
tình cảm với ông P, hôn nhân không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn để ổn định
cuộc sống.
Về con chung: có 01 con tên Ninh Ngọc Trung T, sinh ngày 28/8/2013. Ly hôn, bà
Phyêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Tín, không yêu cầu ông Pcấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ph khai không có.
Nguyên đơn có đơn đề ngày 03/11/2022 đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời đã gửi
bản tự khai yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Ninh Đức P.
Phía bị đơn, ông Ninh Đức P mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội
đồng xét xử, những người tham gia tố tụng từ khi vụ án được thụ lý cũng như tại phiên Tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có.
Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Thái Lê Thùy P khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Ninh Đức P có
nơi cư trú tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình giải quyết, nguyên đơn có đơn yêu cầu được vắng mặt khi xét xử.
Đồng thời,Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Ngày 30/12/2022, Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự đến để tham gia xét xử nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Tòa án đã ra quyết định hoãn phiên tòa đồng thời thông báo cho các đương sự sẽ mở lại phiên tòa vào ngày 16/01/2023 nhưng bị đơn vẫn không đến tham gia phiên tòa mà không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân
Bình: Trong vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phải tham gia phiên tòa theo quy định.
Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 153, quyển số 01/2011 do
Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/8/2011 thể hiện hôn nhân giữa bà Thái Lê Thùy P và ông Ninh Đức P là hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ph yêu cầu ly hôn với ông P. Hội đồng xét xử xét
thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhằm tạo dựng
hạnh phúc gia đình nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Ph và ông P phát sinh mâu
thuẫn mà theo bà Ph trình bày là do ông P không có trách nhiệm với vợ con, chơi game
bắn cá gây nợ nần dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm với nhau.
Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong toàn bộ quá trình Tòa án thụ lý giải quyết
vụ án, ông Pđều không có mặt để tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến cũng như quan
điểm về vụ án. Qua đó cũng đã chứng minh rằng ông không mong muốn hàn gắn tình
cảm vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình
cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn
tụ nên yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà Ph là có cơ sở, phù hợp với pháp luật
và thực tế để các bên ổn định đời sống.
Về con chung: Bà Ph, ông P có 01 con tên Ninh Ngọc Trung T, sinh ngày
28/8/2013. Trẻ T hiện đang sống chung với bà Ph. Nay bà Ph yêu cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng trẻ T. Xét việc trẻ Tín đang sống với mẹ, đồng thời có nguyện vọng được ở với
mẹ. Vì vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận giao trẻ
Tín cho bà Phtrực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phkhông yêu cầu ông
Pcấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Bà Ph khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
giải quyết.
Về nợ chung: Bà Ph khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
giải quyết.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình về việc giải
quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Ph phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, khoản 2 Điều 227; Điều 271;
khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Lê Thùy P về việc “Ly hôn”.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Thái Lê Thùy P được ly hôn ông Ninh Đức P.
3. Về con chung: Giao trẻ Ninh Ngọc Trung T, sinh ngày 28/8/2013 cho bà Thái
Lê Thùy P trực tiếp nuôi dưỡng; Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con cho ông Pdo bà
Phkhông yêu cầu.
Quyền thăm nom chăm sóc con chung và các quyền, lợi ích chính đáng liên quan
đến việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con được pháp luật ghi nhận và bảo vệ tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và Phthức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Ông P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Ph cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực
tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức
theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ph khai không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà
Thái Lê Thùy P nộp nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0032069 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Bà Ph đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị theo luật định.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 ; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q.Tân Bình; - UBND Phường 11, Q, Tân Bình - Các đương sự; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Cao Thị Thu Hiền |