vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Trung H về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Trung H. Về con chung: Giao con chung cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015 cho ông Phạm Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà Nguyễn Thị H không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hường - Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Trung H về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TR
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 5 - 2023.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TR, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Tuất.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn Quỳnh Ngọc 1, xã E, huyện Krông A, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Phạm Trung H, sinh năm 1987.

Trú tại: Khu phố 2, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Trung H tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tr, huyện Tr vào năm 2012. Quá trình chung sống chỉ hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn do hai vợ chồng không hợp tính nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông Phạm Trung H.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015. Hiện nay các con đang sinh sống cùng với ông H nên ly hôn bà đồng ý giao 02 con cho ông Phạm Trung H nuôi dưỡng. Tạm thời, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Phạm Trung H: Vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp bản tự khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.

Nguyên đơn: Chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn: Không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Nhận thấy: Quá trình giải quyết Tòa đã thu thập các tài liệu chứng cứ thể hiện bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình sống chung của vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong lúc cãi vã thì vợ chồng có xảy ra xô xát. Ông, bà đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, hai bên không gặp mặt để hòa giải đoàn tụ. Đối với ông Phạm Trung H đã được Tòa thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng ông H không đến làm việc theo quy định, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà H và ông H đã đến mức trầm trọng, ông H không muốn tiếp tục hàn gắn, duy trì hôn nhân với bà H vì vậy việc bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015. Khi ly hôn bà H đồng ý giao hai con cho ông Phạm Trung H nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung, nhận thấy hiện nay các con đang ở chung với ông H vì vậy giao cháu Hùng và cháu Khánh cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Bà H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì những lẽ trên:

- Căn cứ các Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình 2014:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, ba Hường được ly hôn với ông Phạm Trung H;

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015 cho ông Phạm Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có và không yêu cầu Tòa giải quyết, do chưa lấy được lời khai của ông H nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn đối với ông Phạm Trung H, có địa chỉ cư trú tại: 87/6, tổ 7, khu phố 2, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay ông Phạm Trung H đang cư trú tại địa chỉ: 87/6, tổ 7, khu phố 2, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Tr có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Phạm Trung H để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông H vẫn vắng mặt không đến Tòa án nhân dân huyện Tr để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H kết hôn vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tr, huyện Tr và được Ủy ban nhân dân thị trấn Tr, huyện Tr cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28 tháng 12 năm 2012 đúng theo quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà Nguyễn Thị H trình bày sau khi kết hôn bà và ông Phạm Trung H chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian. Sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cãi nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Ông Phạm Trung H tuy đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa án để làm việc, hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng ông H không đến Tòa án làm việc, hòa giải theo quy định, không có biện pháp để hàn gắn đoàn tụ giữa hai vợ chồng. Như vậy, ông H đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ kiện, cũng cho thấy ông H không quan tâm đến việc bà H xin ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tr: Đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai cung cấp: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được vì bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H đều không báo địa phương biết. Về điều kiện nuôi con thì không nắm được, hiện nay các cháu Phạm Nguyễn Hiếu H và cháu Phạm Quốc K do ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Xét mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H đã xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Trung H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H có 02 con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015. Ly hôn, bà H đồng ý giao 02 con chung cho ông Phạm Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Vôï, choàng thoûa thuaän veà ngöôøi tröïc tieáp nuoâi con, nghóa vuï, quyeàn cuûa mỗi beân sau khi ly hoân ñoái vôùi con; tröôøng hôïp khoâng thoûa thuaän ñöôïc thì Toøa aùn quyeát ñònh giao con cho moät beân tröïc tieáp nuoâi caên cöù vaøo quyeàn lôïi veà moïi maët cuûa con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại bản tự khai ngày 18/4/2023 cháu Phạm Nguyễn Hiếu H và cháu Phạm Quốc K có nguyện vọng sống với ông H. Ngoài ra, hiện nay cháu Phạm Nguyễn Hiếu H và cháu Phạm Quốc K đang sinh sống ổn định cùng với ông H tại địa chỉ 87/6, tổ 7, khu phố 2, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết giao con chung cháu Phạm Nguyễn Hiếu H và cháu Phạm Quốc K cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H trình bày tạm thời bà không dưỡng nuôi con chung, ông H không có yêu cầu nên tạm thời bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và bị đơn ông Phạm Trung H không có lời khai nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết riêng khi có yêu cầu.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr, tỉnh Đồng Nai về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

TUYÊN XỬ:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Phạm Trung H về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Phạm Trung H.

- Về con chung: Giao con chung cháu Phạm Nguyễn Hiếu H, sinh ngày 24/01/2013 và cháu Phạm Quốc K, sinh ngày 02/9/2015 cho ông Phạm Trung H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, bà Nguyễn Thị H không cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do ông Phạm Trung H không có lời khai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhưng do ông Phạm Trung H không có lời khai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm bà Nguyễn Thị H theo biên lai thu số 0002389 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr, tỉnh Đồng Nai được tính trừ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị H và ông Phạm Trung H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ