- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Ngọc Phương;
Ông Nguyễn Văn Thượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích K, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Võ Thành P, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Chị K, anh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích K trình bày:
Chị và anh Võ Thành P sống chung với nhau năm 2006, đến năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân là tự nguyện.
Trong thời gian sống chung giữa vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân do anh P không còn tình cảm với chị và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác; ngoài ra, anh P còn sử dụng ma túy và mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án xử phạt 08 năm tù, hiện đang chấp hành án tại Đội 14, Phân trại 1 của Trại giam C thuộc Cục C1, Bộ C2 từ năm 2018 cho đến nay.
Nay chị nhận thấy giữa chị và anh P không còn tình cảm với nhau và không thể tiếp tục sống chung nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008, hiện nay cháu đang sống chung với chị. Do anh P đang chấp hành án tù nên sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Thành P có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn như sau:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị K về thời gian sống chung, nơi đăng ký kết hôn, thời gian ly thân, tuy nhiên vợ chồng không có mâu thuẫn mà do anh vi phạm pháp luật hình sự nên phải đi chấp hành án tại Đội 14, Phân trại 1 của Trại giam C thuộc Cục C1, Bộ C2 từ tháng 8 năm 2018 đến nay. Nay anh đồng ý ly hôn với chị K.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008, hiện nay cháu đang sống chung với chị K. Do anh đang chấp hành án tù nên sau khi ly hôn anh đồng ý gioa 02 con chung cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy, giữa chị K và anh P vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân giữa anh, chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án anh P đồng ý ly hôn với chị K; đồng ý giao 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Do đó căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P.
- Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi cháu N.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị K, anh P không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị K và anh P.
Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2006, hôn nhân giữa anh, chị là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án, anh P thừa nhận do anh vi phạm pháp luật phải chấp hành án từ tháng 8-2018 đến nay nên đồng ý ly hôn với chị K, việc anh P đồng ý ly hôn với chị K là tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên chị K yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị K và anh P có 02 người con tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008. Chị K yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung, anh P đồng ý và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu D, cháu D1 nên giao cháu D, cháu D1 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị K, anh P không yêu cầu giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích K là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Võ Thành D, sinh ngày 06-12-2006 và Võ Thành D1, sinh ngày 22-10-2008 cho chị Nguyễn Thị Bích K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh P đóng góp (cấp dưỡng) nuôi cháu D, cháu D1 cùng với chị.
Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị K, anh P không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bích K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0008056 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bích K và anh Võ Thành P có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh (Phòng KT-NV); - VKSND huyện Tân Châu; - CC THADS huyện Tân Châu; - UBND xã Tân Hưng; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Quốc |