vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lữ Thị Mộng T được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Lữ Thiên Đ - sinh ngày 02/12/2016 cho chị Lữ Thị Mộng T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lữ Thị Mộng T- Huỳnh Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lữ Thị Mộng T được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHẬN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2023
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh;

2. Ông Lý Tuấn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lữ Thị Mộng T - sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh K.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Th - sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/02/2023 của nguyên đơn chị Lữ Mộng T trình bày: Tôi và chồng tôi có tìm hiểu nhau trước được 5 tháng nên đến năm 2015 chúng tôi được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/6/2016.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do chúng tôi bất đồng ý kiến trong cuộc sống, sống không hợp nhau, chồng tôi không có trách nhiệm lo cho vợ con, chi phí trong cuộc sống tôi tự trang trãi, chồng tôi còn ghen tuông vô cớ nhưng chúng tôi không có ly thân với nhau. Nay, xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là anh Huỳnh Văn Th.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 01 người con chung tên Huỳnh Lữ Thiên Đ - sinh ngày 02/12/2016, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không yêu cầu chồng tôi phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có tài sản chung và không thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là anh Huỳnh Văn Th.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Như tôi đã trình bày trên, tôi không có yêu cầu gì thêm.

Đối với anh Huỳnh Văn Th trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Th nhiều lần nhưng anh vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên là không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lữ Thị Mộng T được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Lữ Thiên Đ - sinh ngày 02/12/2016 cho chị Lữ Thị Mộng T được tiếp tục, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Lữ Thị Mộng T và anh Huỳnh Văn Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Lữ Thị Mộng T là nguyên đơn và anh Huỳnh Văn Th là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị T có đơn xin xét xử vắng mặt còn anh Th được Tòa án tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi anh có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh Huỳnh Văn Th không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh Th là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị Lữ Thị Mộng T và anh Huỳnh Văn Th kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang vào ngày 24/6/2016 cho nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị T và anh Th là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau trước nhưng chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộc ra những cá tính không phù hợp. Chị T cho rằng do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, sống không hợp nhau, anh Th không có trách nhiệm lo cho vợ con, chi phí trong cuộc sống chị tự trang trãi, anh Th còn ghen tuông vô cớ và anh chị không có ly thân. Do đó, ngày 07/4/2023 và ngày 27/4/2023 Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh Th không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh Th. Mặc dù vợ chồng anh chị sống không có ly thân với nhau nhưng anh chị không gặp nhau thường xuyên để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Đồng thời, chị T cũng tỏ rõ thái độ không còn tình cảm và yêu thương anh Th nên cương quyết xin ly hôn với anh. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Đối với anh Huỳnh Th, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà anh Th tống đạt các văn bản đúng theo qui định của pháp luật và thông báo cho anh Th qua điện thoại và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi anh có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh Th không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh Th. Từ đó, cho thấy anh Huỳnh Th đã biết được nội dung yêu cầu xin ly hôn của chị T. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt anh Th theo qui định của pháp luật.

Về con chung: chị Lữ Thị Mộng T xác định chị và anh Huỳnh Văn Th có 01 người con chung tên Huỳnh Lữ Thiên Đ - sinh ngày 02/12/2016, hiện nay cháu Đăng đang sống với chị T nên chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và chị không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét về yêu cầu nuôi con của chị Lữ Thị Mộng T thấy rằng: Chị T và anh Th sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẩn nên chị tự lo chi phí trong cuộc sống, tự trang trãi lo cho cháu Đăng và cháu cũng có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường như những đứa trẻ khác, còn anh Th không quan tâm, không có trách nhiệm lo cho con cùng với chị T. Do đó, yêu cầu nuôi con của chị Lữ Thị Mộng T có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Anh Huỳnh Văn Th có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lữ Thị Mộng T xác định chị và anh Huỳnh Văn Th không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Lữ Thị Mộng T phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006648, ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Lữ Thị Mộng T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lữ Thị Mộng T được ly hôn với anh Huỳnh Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Lữ Thiên Đ - sinh ngày 02/12/2016 cho chị Lữ Thị Mộng T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét.

Anh Huỳnh Văn Th có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Lữ Thị Mộng T phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006648, ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Lữ Thị Mộng T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 31/5/2023.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ