vanban.org

Bản án 58/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đỗ Hoàng V đối với bà Huỳnh Hương T về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V là cha đẻ của cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 theo giấy chứng sinh số 54, quyển số 62 ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Bệnh viện Bà Rịa. Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và bà Huỳnh Hương T được quyền liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đỗ Hoàng V đối với bà Huỳnh Hương T về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-8-2023
V/v “Tranh chấp xác định
cha cho con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Phương

2. Bà Trần Thị Lệ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang– Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 18-4-2023 về “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐST – HNGĐ ngày 26-7-2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V, sinh năm 1991(Có mặt)

Địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường P, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Bà Huỳnh Hương T, sinh năm 1986 (Vắng mặt – Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ L, khu phố V, phường O, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phạm Dương S, sinh năm 1986 (Vắng mặt – Có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Trại giam G, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08/9/2016. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V trình bày:

Năm 2015 ông và bà Huỳnh Hương T có tìm hiểu nhau và sống chung như vợ chồng. Quá trình chung sống giữa ông V và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 (Theo giấy chứng sinh số 54, quyển số 62 ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Bệnh viện Bà Rịa).

Thời điểm ông V chung sống như vợ chồng với bà T, bà T tuy chưa ly hôn với ông Phạm Dương S, nhưng đã sống ly thân và đang trong quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án, đến ngày 18 tháng 01 năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (Nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã giải quyết ly hôn cho bà T và ông S theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2016/QĐST – HNGĐ. Sau đó, bà T làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Phúc Anh tại UBND phường Phú Mỹ nhưng bị từ chối vì cháu Phúc Anh được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T và ông S.

Do đó, nay ông V khởi kiện yêu cầu Toà án xác nhận cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 có cùng huyết thống cha con với ông V để ông có căn cứ làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu An theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra ông V không có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 20 tháng 7 năm 2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án bị đơn bà Huỳnh Hương T trình bày:

Bà T thống nhất với toàn bộ phần trình bày của Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V.

Trước đây bà T và ông Phạm Dương S là vợ chồng. Khoảng năm 2012 bà T và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân. Đến năm 2015 bà T quen biết, phát sinh tình cảm với ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và đã chung sống như vợ chồng với nhau. Ngày 08 tháng 9 năm 2016 bà T sinh cháu Nguyễn Phúc A. Cháu A là con của bà và ông V. Trong thời gian chung sống như vợ chồng với ông V, bà T đang giải quyết ly hôn với ông S. Đến đến ngày 18 tháng 01 năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Tân Thành (Nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã giải quyết ly hôn cho bà T và ông S theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2016/QĐST – HNGĐ. Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông S chỉ có 01 con chung là cháu Phạm Huỳnh Mạnh H, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2011.

Khi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu A tại UBND phường Phú Mỹ bà bị từ chối vì cháu A được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bà và ông S.

Nay để có căn cứ làm giấy khai sinh cho cháu A bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông V. Bà xác nhận cháu A là con chung của bà và ông V đồng thời yêu cầu Toà án xác nhận ông V và cháu A có quan hệ huyết thống cha con.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 7 năm 2023 ông Phạm Dương S trình bày:

Trước đây ông là chồng của bà Huỳnh Hương T. Đến ngày 18 tháng 01 năm 2016 ông và bà T ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2016/QĐST – HNGĐ. Do trước khi ly hôn ông đang chấp hành án tại trại giam ở Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa nên cháu Nguyễn Phúc A không phải là con của ông, trong thời kỳ hôn nhân ông và Thư chỉ có 01 con chung là cháu Phạm Huỳnh Mạnh H, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2011. Ông S không có ý kiến gì đối với yêu cầu xác nhận cha cho con của ông V và bà T, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:

Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.

- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đỗ Hoàng V đối với bà Huỳnh Hương T cụ thể:

Tại Kết luận giám định số 3342/KL – KLHS ngày 19/6/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và bé trai sinh ngày 08/9/2016 có quan hệ huyết thống cha con.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 có quan hệ huyết thống cha con.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: “Tranh chấp xác định cha cho con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Bà Huỳnh Hương T và ông Phạm Dương S có đơn xin vắng mặt vì vậy căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T, ông S.

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định: Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và bà Huỳnh Hương T đã chung sống như vợ chồng từ năm 2015, trong thời gian này bà T và ông Phạm Dương S đang là vợ chồng hợp pháp. Ngày 08 tháng 9 năm 2016, bà T sinh 01 cháu trai theo giấy chứng sinh số 54, quyển số 62 ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Bệnh viện Bà Rịa.

Tại Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 11/2016/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2016 đã giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Phạm Dương S. Ông S và bà T đều xác nhận trong thời kỳ hôn nhân của mình, ông S và Thư có 01 con chung là Phạm Huỳnh Mạnh H, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2011 như nội dung về con chung trong quyết định trên.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông V, bà T đều khẳng định cháu Nguyễn Phúc A là con chung của ông bà.

Tại Kết luận giám định số 3342/KL – KLHS ngày 19/6/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và bé trai sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 có quan hệ huyết thống cha con.

Từ những phân tích trên có căn cứ xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 có quan hệ huyết thống cha – con.

Do đó, căn cứ quy định tại Điều 89, 91 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đỗ Hoàng V, cụ thể xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V là cha đẻ của cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016.

. Về án phí: Các đương sự miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Điều 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đỗ Hoàng V đối với bà Huỳnh Hương T về: “Tranh chấp xác định cha cho con”.

Xác định ông Nguyễn Đỗ Hoàng V là cha đẻ của cháu Nguyễn Phúc A, sinh ngày 08 tháng 9 năm 2016 theo giấy chứng sinh số 54, quyển số 62 ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Bệnh viện Bà Rịa.

Ông Nguyễn Đỗ Hoàng V và bà Huỳnh Hương T được quyền liên hệ đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Phúc A theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí sơ thẩm: Các đương sự được miễn án phí về tranh chấp xác nhận cha cho con.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ