vanban.org

Bản án 58/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền nợ quá hạn tính đến ngày 02/8/2023 là 2.735.949đ (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi chìn đồng). * Án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG L
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/DS-ST
Ngày: 02-8-2023.
"V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG L

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Huỳnh Văn Hồng.

2. Bà: Trần Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Liêm không tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2023/TLST – DS ngày 26 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 124/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vũng L, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ

Địa chỉ trụ sở chính: Số 130, đường Phan Đăng L, quận Phú N, thành phố

Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Chủ tịch

Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh H, chức vụ: Giám đốc

phòng giao dịch Vũng L.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Phạm Thanh H là ông Lê Quang L – sinh năm: 1998 (văn bản ủy quyền ngày 15/3/2023) (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số 91, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thị trấn Vũng L, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Bé T – sinh năm: 1958 (vắng mặt)

- Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn M – sinh năm: 1963 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Hiếu L, xã Hiếu T, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 15/3/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do anh Lê Quang L là đại diện trình bày:

Vào ngày 12/7/2016, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có cho bà Lê Thị Bé T vay số tiền 15.000.000đồng, lãi suất cho vay là 10%/năm (tức 1,25%/tháng), hình thức cho vay là tín chấp, mục đích vay để chăn nuôi. Khi vay tiền do bà Bé T trực tiếp ký tên người vay và ông Phạm Văn M là chồng bà Bé T ký tên người bảo lãnh vào giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ của Ngân hàng.

Từ vay cho đến nay có trả được tiền vốn là 15.000.0000đ, lãi trong hạn 1.500.000đ, tổng cộng 16.500.000đ thì ngưng không trả cho đến nay. Ngân hàng có nhiều lần thông báo yêu cầu bà Bé T và ông M trả nợ nhưng đến nay vẫn không trả.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M trả số tiền nợ quá hạn tính đến ngày 02/8/2023 là 2.735.949đ (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi chìn đồng).

* Đối với bị đơn bà Lê Thị Bé T và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M:

Bị đơn bà Lê Thị Bé T và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Toà, Tòa án nhận định:

Về tố tụng dân sự:

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và bà Lê Thị Bé T, ông Phạm Văn M. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng L.

Xét thấy, bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không lý do. Ngày 01/8/2023, đại diện nguyên đơn xin vắng mặt. Theo quy ñònh taïi Ñieàu 227, Điều 228 cuûa Boä Luaät toá tuïng daân sự, Hoäi ñoàng xeùt xöû tieán haønh xeùt xöû vaéng maët đại diện nguyên đơn, bò ñôn và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án:

Hợp đồng vay giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và bà Lê Thị Bé T, ông Phạm Văn M được thiết lập dựa trên sự tự nguyện giữa đôi bên nên hợp đồng này phù hợp theo quy định của pháp luật.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M trả số tiền nợ quá hạn tính đến ngày 02/8/2023 là 2.735.949đ (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi chìn đồng).

Xét thấy, tại Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 03/6/2016, Danh sách cho vay trả góp giải ngân qua tài khoản thẻ DDV góp hội LHPN xã Hiếu T ngày 12/7/2016, thể hiện bà Lê Thị Bé T trực tiếp ký tên người vay và anh Phạm Văn M (chồng của bà Tư) ký tên người bảo lãnh. Trường hợp bà Tư không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Ngân hàng TMCP Đ thì ông M sẽ trả nợ thay cho người vay cho đến khi hết nợ đối với số tiền nợ vay vốn là 15.000.000đ, mục đích sử dụng vốn để chăn nuôi, thời hạn đề nghị vay 12 tháng được Ban chấp hành hội liên hiệp phụ nữ và Ủy ban nhân dân xã Hiếu T xác nhận. Từ vay cho đến nay có trả được tiền vốn là 15.000.0000đ, lãi trong hạn 1.500.000đ, tổng cộng 16.500.000đ thì ngưng không trả cho đến nay. Ngân hàng có nhiều lần thông báo yêu cầu bà Bé T và ông M trả nợ nhưng đến nay vẫn không trả.

Ngân hàng nhiều lần thông báo nợ nhưng bà Tư và ông M vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ là có cơ sở chấp nhận.

Do đó, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Buộc bà Tư và ông M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần trả số tiền nợ quá hạn tính đến ngày 02/8/2023 là 2.735.949đ (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi chìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Tư và ông M được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khoâng phaûi chòu aùn phí daân söï sô thaåm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 465, Điều 466 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Buộc bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền nợ quá hạn tính đến ngày 02/8/2023 là 2.735.949đ (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm bốn mươi chìn đồng).

* Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Bé T và ông Phạm Văn M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N00009401 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng L cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ