- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc H (tên gọi khác: Mặt M) 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng t , về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HSST Ngày 10 tháng 8 năm 2022 |
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông NGUYỄN THÀNH PHẤN
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông PHẠM TÁM.
Ông ĐỖ NGỌC QUÝ.
- Thư ký phiên tòa: Bà HỒ THỊ HOA - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông PHẠM DUY CƢỜNG - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN QUỐC H, sinh ngày 17/01/1992; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Mặt M; nơi sinh VN – KH. Nơi cư trú: TDP 03, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Cha: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1966. Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1967; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/11/2009, bị đưa vào Trường Giáo dưỡng số 03, V26, Bộ Công an, thời hạn 24 tháng về hành vi “Nhiều lần trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 10/11/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện VN. Chấp hành xong ngày 12/11/2011; Ngày 19/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh PY xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2013; đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 30/01/2013, phần bồi thường dân sự thi hành xong ngày 24/6/2013; Ngày 27/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 224/2014/HSPT; Ngày 28/01/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 08/2015/HSST, tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù thành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2017; đã đóng xong án phí hình sự sơ thấm của hai bản án và án phí hình sự phúc thẩm vào ngày 12/01/2015 và ngày 03/3/2015.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 03/12/2021 đến ngày 06/12/2021 thì chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh KH. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. PHAN NGỌC H1 , sinh ngày 02/6/1992; Giới tính: Nam, nơi sinh: VN - KH; Nơi cư trú: TDP 04, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Cha: Phan Ngọc H2, sinh năm: 1969. Mẹ: Phạm Thị Tuyết H3, sinh năm: 1970; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/4/2016, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 27/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện VN. Chấp hành xong ngày 09/02/2021; Nhân thân: Ngày 10/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 05/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2013, đã đóng xong án phí hình sự sơ thấm ngày 25/4/2013; Ngày 07/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 62/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2017, đã đóng xong án phí hình sự sơ thâm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 04/10/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2022, hiện nay bị tạm giam tại Trại tam giam Công an tỉnh KH. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Xuân V, sinh năm 1995; trú tại: Thôn NS, xã ÂN, huyện HÂ, tỉnh BĐ. Vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn D1 , sinh năm 1966; trú tại: TDP 9, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
Ngƣời làm chứng:
1. Trần Thị Lệ H4, sinh năm 1981; trú tại: TDP 4, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
2. Trƣơng Dĩ K, sinh năm 2003; trú tại: Thôn PH 1, xã VT, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14h30 ngày 02/12/2021, khi Nguyễn Quốc H đang điều khiển xe mô tô 79V1-125.02 lưu thông trên đường Ngô Quyền thuộc TDP 05, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH thì gặp Phan Ngọc H1, cả hai thống nhất cùng nhau “đi kiếm tiền”. H điều khiển xe mô tô 79V1-125.02 chở H1 đi lòng vòng quanh khu vực Cây xăng VG thuộc TDP 01, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH là nơi mà những xe ô tô thường dùng để đổ xăng dầu và mua thức ăn thì lợi dụng sơ hở của lái xe để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 15h30 cùng ngày, khi cả hai đang ở Cây xăng VG thì H giả vờ đổ xăng còn H1 đi bộ đến lề đường ngồi quan sát. Lúc này, xe ô tô tải 61C-357.09 do anh Nguyễn Xuân V điều khiển lưu thông trên Quốc lộ 1A (hướng Nam - Bắc) đi đến và dừng bên lề đường trước tiệm bánh mì cách Cây xăng khoảng 30m về hướng Nam, anh V xuống xe và đi vào mua bánh mì. Phan Ngọc H1 nhanh chóng đi bộ đến đầu xe ô tô 61C-357.09 thì lúc này H nhìn thấy và hiểu ngay là H1 sẽ đột nhập vào cabin xe để trộm cắp tài sản nên điều khiển xe mô tô 79V1-125.02 đi theo H1, khi cách H1 khoảng 08m thì H dừng xe lại quan sát, cảnh giới. Phan Ngọc H1 mở cửa bên trái xe ô tô 61C-357.09 đột nhập vào trong cabin và trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu vàng đồng, bên trong có gắn sim số 0786022940 thì bị anh V phát hiện; H1 nhảy xuống khỏi cabin xe 61C1-357.09 thì bị V chạy đến giành lại điện thoại nhưng hai tay H1 cầm điện thoại Iphone 6S giơ lên cao, do V thấp hơn nên hai tay nắm giữ hai cổ tay của H1 kéo xuống. Lúc này Nguyễn Quốc H điều khiển xe mô tô 79V1-125.02 chạy đến, áp sát và dùng chân trái đạp vào vùng hông của anh V làm V ngã người về phía thùng xe ô tô, hai tay V vẫn nắm giữ hai tay của H1 để giành lại điện thoại di động. Do người V ngã vào thùng xe ô tô nên ví da hiệu “LEWIS” màu đen bên trong có 2.770.000 đồng, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank và 01 thẻ đổ dầu có ghi chữ “Nguyễn Xuân V”, từ trong túi quần sọt bên trái của V rơi xuống đường và văng ra cách V khoảng 01 mét. H liền điều khiển xe mô tô đến và dùng chân trái hất chiếc ví này về hướng đuôi xe ô tô khoảng 03m rồi tiếp tục chạy xe đến nhặt lên cầm trên tay; H1 nhìn thấy vậy nên cũng thả điện thoại ra cho V cầm rồi chạy đến xe mô tô 79V1-125.02 để H chở chạy thoát về hướng Nam, anh V tri hô và chạy đuổi theo nhưng không kịp.
Khi cả hai chạy đến khu vực gần chùa Cốc thuộc thôn PC1B, xã VP, huyện VN, tỉnh KH thì dừng lại, sau khi kiểm tra bên trong ví thì H và H1 chia mỗi người 1.000.000 đồng (một triệu đồng), H vứt bỏ thẻ ATM tại con đường đất gần chùa Cốc, còn 770.000 đồng (bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) thì cả hai cùng tiêu xài hết, riêng ví da và thẻ đổ xăng dầu thì H cất giữ. Sau đó hành vi của Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ trên người H 01 ví da hiệu “LEWIS” màu đen, bên trong có 1.275.000 đồng (trong đó có 275.000 đồng là tiên cá nhân của H) và 01 thẻ đổi xăng dầu bằng nhựa có ghi tên “Nguyễn Xuân V”. Đồng thời H và H1 cũng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 03/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh đã tổ chức truy tìm thẻ ATM ngân hàng Vietcombank của anh Nguyễn Xuân V nhưng không thu giữ được.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 94/2021/KL-TTHS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh kết luận: Tổng tài sản gồm 01 điện thoại di động Iphone 6S; 01 Sim di động hiệu Mobifone và 01 ví da, có tổng giá trị là 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã trả lại:
+ 01 điện thoại di động Iphone 6S, màu vàng đồng; 01 Sim điện thoại số 0786.022.940; 01 ví da màu đen, bên trên có ghi chữ “Levi's”; Số tiền 1.275.000 đồng; 01 thẻ nhựa cứng màu trắng bên trên có ghi tên Nguyễn Xuân V cho người bị hại là anh Nguyễn Xuân V.
+ 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 7991-125.02, số máy: 5C63765774, số khung: RLCS5C630Y765774 và 01 giấy đăng ký xe cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn D1.
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30; 01 Sim điện thoại số 0336.302.201; 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quốc H cho chủ sở hữu là Nguyễn Quốc H.
+ Đối với vật chứng là 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu “ALTA MODA FASHION STORE”, size XXL (Hiện đang giữ tại kho vật chứng của Cơ quan Thi hành án).
Về dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Xuân V đã nhận lại một số tài sản bị chiếm đoạt, đối với 01 thẻ ATM và số tiền chưa thu hồi được là 1.495.000 đồng (một triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) thì V cũng không yêu cầu Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 phải bồi thường; Ông Nguyễn Văn D1 đã nhận lại xe mô tô 79V1-125.02 và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 cùng về tội “ Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 theo tội danh, khung hình phạt như đã trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; Bị cáo Phan Ngọc H1 từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm 03 tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân V; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D1 đều vắng mặt trong hồ sơ cũng không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xét;
Về vật chứng đề nghị tịch thu và tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu “ALTA MODA FASHION STORE”, size XXL.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và trong hồ sơ cũng không yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại Nguyễn Xuân V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D1; Các nhân chứng Trần Thị Lệ H4, Trương Dĩ K đều vắng mặt không có lý do và đều được cấp tống đạt hợp lệ. Tất cả đều có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên áp dụng khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi của các bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh thu thập được. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h30 ngày 02/12/2021, tại khu vực đường Quốc lộ 1A thuộc TDP 01, thị trấn VG, huyện VN, tỉnh KH, Nguyễn Quốc H và Phan Ngọc H1 đã có hành vi sử dụng vũ lực tấn công anh Nguyễn Xuân V nhằm chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, bên trong có 01 sim và 01 ví da bên trong có 2.770.000 đồng của anh V. Tổng tài sản có giá trị là 4.470.000 đồng (bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân.
Xét vai trò của từng bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc H là rủ rê và là người thực hành tích cực nhất, đã trực tiếp điều khiển xe mô tô chở H1 đi tìm tài sản để chiếm đoạt. H là người quan sát, cảnh giới và dùng vũ lực đối với anh V nhằm chiếm đoạt tài sản của anh V đến cùng. Bị cáo Nguyễn Quốc H nhân thân: Ngày 12/11/2009, bị đưa vào Trường Giáo dưỡng số 03, V26, Bộ Công an, thời hạn 24 tháng về hành vi “Nhiều lần trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 731/QĐ-UBND ngày 10/11/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện VN; Ngày 19/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh PY xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2012/HSST; Ngày 27/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh KH xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 224/2014/HSPT; Ngày 28/01/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 08/2015/HSST, tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù thành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù.
Đối với bị cáo Phan Ngọc H1 là đồng phạm với vai trò thực hành tích cực đã trực tiếp đột nhập vào cabin xe để trộm cắp tài sản. Khi bị anh V phát hiện, H1 nhảy xuống khỏi cabin xe ô tô dùng vũ lực đối với anh V nhằm chiếm đoạt tài sản đến cùng. Về nhân thân Phan Ngọc H1 ngày 28/4/2016, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 27/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện VN; Ngày 10/01/2013, bị Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 05/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2013, đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/4/2013; Ngày 07/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 62/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2017, đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 04/10/2016.
Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Ngọc H1 đều có nhân thân xấu. Đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về các tội chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cũng cần phải xử lý thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo và cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và ngăn ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với xe mô tô 79V1- 125.02 là xe của ông Nguyễn Văn D1 (cha của Nguyễn Quốc H), H đã sử dụng làm phương tiện đi lại và sau đó dùng vào việc đi cướp tài sản của người khác. Do ông D1 không biết việc này nên không có cơ sở để thu giữ.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Xuân V và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D1 đều vắng mặt nhưng trong hồ sơ cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Vật chứng vụ án:
Cơ quan Điều tra đã thu giữ 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu “ALTA MODA FASHION STORE”, size XXL của Nguyễn Quốc H (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2022 giữa Cơ quan Điều tra và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện VN). Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu nhận lại và vật chứng này cũng không có giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Ngọc H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Ngọc H1.
Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc H (tên gọi khác: Mặt M) 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng t , về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2021.
Xử phạt bị cáo: Phan Ngọc H1 04 (Bốn) năm t , về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2022 .
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Xuân V; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D1 không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu đen, hiệu “ALTA MODA FASHION STORE”, size XXL (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2022 giữa Cơ quan Điều tra và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện VN).
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Ngọc H1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng ( hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Ngọc H1 có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị hại Nguyễn Xuân V và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện VN; - Công an huyện VN; - Chi cục THA dân sự huyện VN; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Hồ sơ THA; - Lưu: VT, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Phấn |