vanban.org

Bản án 58/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy".

* Hình phạt chính: * Hình phạt bổ sung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua Sìa P - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HÀ GIANG
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HS-ST
Ngày 29 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh Luyện

Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử: Ông Hoàng Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Tiến Khoa;

2. Ông Tô Đình Cam;

3. Bà Nguyễn Thị Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại Phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Mua Sìa C và các đồng phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang đối với các bị cáo:

1. Mua Sìa C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25 tháng 01 năm 1985, tại huyện Đ, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Xóm P, Thị trấn P2, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mua Giàng M, sinh năm 1961 và bà Vàng Thị V, sinh năm 1962; vợ Giàng Thị C2, sinh 1981; có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo Mua Sìa C bị bắt tạm giữ từ ngày 01/1/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Hà Giang; có mặt.

2. Cư Chẩn P3, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 10 năm 1982 tại huyện M, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: Thôn M2 xã L, huyện M - tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cư Chỉn D, sinh năm 1960 và bà Lù Thị D2, sinh năm 1960; vợ Giàng Thị G, sinh năm 1986; Có 08 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh tháng 3 năm 2022 (sinh sau khi bị cáo bị bắt); Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo Cư Chẩn P3 bị bắt giữ ngày 01/1/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Hà Giang; có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Cao Xuân B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang; Có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Giàng Thị C3; sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn P, Thị trấn P2, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; có mặt.

Người phiên dịch tiếng mông:Ông Vừ Mí N; địa chỉ: Thị trấn P2, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; có mặt.

Người làm chứng:

- Thào Thị S; sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P3, xã L2, huyện Y, tỉnh Hà Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20h00 ngày 30/12/2021, Mua Sìa C nhận được điện thoại của người đàn ông Trung Quốc gọi vào số điện thoại 0365677948 của C (trước đó Mua Sìa C đi làm thuê bên Trung Quốc, người này là lái xe đưa đón nên Mua Sìa C quen, có lưu số điện thoại +8613652701021 trong danh bạ là Yawlov) bảo Mua Sìa C đi vận chuyển ma túy và thỏa thuận sẽ trả tiền công cho C là 10.000 NDT (mười nghìn nhân dân tệ), Mua Sìa C đồng ý. Đến khoảng 19h00 ngày 31/12/2021, người đàn ông Trung Quốc gọi điện cho C bảo đi lên chỗ cũ lấy tiền (tức khu vực biên giới L3, xã S, huyện Đ). Nghe điện thoại xong, Mua Sìa C điều khiển xe máy (loại xe Airblade, BKS 23 M1-133.88) đi đến điểm hẹn, Mua Sìa C bảo với người đàn ông người Trung Quốc là bị ngã đau tay lắm chắc không đi nữa, người đàn ông Trung Quốc nói là đã hẹn bên kia rồi, trước đã đi một lần rồi nếu không phải trả lại tiền (tức tiền công trước đó Mua Sìa C khai nhận đã đi vận chuyển ma túy), lần này đi lấy 01 bánh và 01 túi ngô (Mua Sìa C không biết là loại ma túy gì chỉ biết là ma túy), thấy phải trả lại tiền nên Mua Sìa C đồng ý đi. Người đàn ông Trung Quốc đưa qua khe sắt hàng rào biên giới cho C một túi nilon màu đen buộc kín và nói với Mua Sìa C là tiền không được kiểm tra, có 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Mua Sìa C nhận túi tiền cất vào cốp xe máy rồi đi về nhà (khi về đến nhà C vẫn để tiền trong cốp xe). Đến khoảng 05h00 ngày 01/01/2022, Mua Sìa C gọi điện cho Cư Chẩn P3 - người giao ma túy bên Lào Cai (số điện thoại do người đàn ông Trung Quốc cung cấp, C lưu tên trong điện thoại là Pooj.Ua Noj, xác định được là số 0819868319) nhưng không nghe máy, sau đó Mua Sìa C gọi điện thoại cho Thào Thị S, sinh năm 1989, trú tại Thôn P3, xã L2, huyện Y, tỉnh Hà Giang, mục đích là rủ S cùng đi chơi, nói chuyện cho đỡ buồn (số điện thoại của S là 0376134306 lưu tên trong danh bạ của C là Hà Niam). Mua Sìa C nói với Thào Thị S là đi cùng C đi lấy thuốc và đi chơi, Thào Thị S đồng ý. Đến 07h00 Mua Sìa C điều khiển xe máy đến ngã ba đường mới thuộc xã L2 đón Thào Thị S rồi cả hai cùng đi xuống Q. Khi đi đến khu vực xã Y2, huyện Q, tỉnh Hà Giang, Mua Sìa C gọi điện cho Cư Chẩn P3 hỏi địa điểm giao dịch, P3 nói với C là ở chỗ cũ (tức khu vực đồi giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và huyện Q, tỉnh Hà Giang). Mua Sìa C tiếp tục điều khiển xe máy đi qua trung tâm xã Y2, huyện Q khoảng 02km thì C bảo Thào Thị S xuống xe đứng đợi để C đi lấy thuốc. Mua Sìa C một mình điều khiển xe máy đi thêm khoảng 600m vào đường đất thì C để xe máy ven đường, cầm theo túi tiền đi theo đường lên đồi khoảng 15m thì gặp P3, Mua Sìa C đưa túi tiền cho P3, P3 đưa lại cho Mua Sìa C 02 gói ma túy, trong đó 01 gói bằng túi nilon màu đỏ, 01 gói được cuốn kín bằng băng dính màu trắng, C không mở ra kiểm tra. Mua Sìa C cất gói ma túy gói bằng túi nilon màu đỏ vào trong túi phía trong bên trái của chiếc áo khoác đang mặc trên người, gói ma túy còn lại Mua Sìa C dùng chiếc quần, loại quần mưa cuốn lại rồi để trong cốp xe máy. Mua Sìa C điều khiển xe máy quay lại đón Thào Thị S đi về, đang đi trên đường thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Ngoài ra Mua Sìa C còn khai nhận vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11/2021 (C không nhớ thời gian cụ thể), Mua Sìa C đã vận chuyển 01 lần ma túy cho người đàn ông Trung Quốc. Người đàn ông Trung Quốc gọi điện thoại cho Mua Sìa C đặt vấn đề thuê Mua Sìa C đi xuống huyện Q, tỉnh Hà Giang nhận ma túy, sẽ trả tiền công cho C là 5.000 NDT (Năm nghìn nhân dân tệ), Mua Sìa C nói “Không biết người làm sao lấy được hàng”, người đàn ông Trung Quốc nói sẽ cho số điện thoại khác có người gọi. Mua Sìa C đồng ý, người đàn ông Trung Quốc gửi số điện thoại người giao ma túy cho Mua Sìa C ( số điện thoại 0819868319, C lưu tên trong danh bạ là Pooj.Ua Noj). Sau đó người đàn ông Trung Quốc gọi điện thoại lại cho Mua Sìa C hẹn lên khu vực hàng rào biên giới thuộc thôn L3, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang lấy tiền đi lấy ma túy. Mua Sìa C điều khiển xe máy đi đến khu vực đã hẹn, người đàn ông Trung Quốc đưa cho Mua Sìa C 01 túi nilon màu đen buộc kín và nói có hơn 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) dặn C là không được mở ra. Mua Sìa C cất số tiền này trong cốp xe máy. Sáng ngày hôm sau Cư Chẩn P3 gọi điện cho Mua Sìa C hẹn đi lấy ma túy. Mua Sìa C đã gọi điện cho Thào Thị S rủ cùng đi chơi và đi lấy thuốc (C không nói là thuốc gì). Quá trình đi nhận ma túy, Mua Sìa C có liên lạc qua điện thoại với P3 trao đổi về địa điểm giao nhận ma tuý là khu đồi giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và huyện Q, tỉnh Hà Giang (cùng với địa điểm giao ma túy ngày 01/01/2022). Khi gần đến điểm hẹn, Mua Sìa C bảo Thào Thị S xuống xe đứng đợi để C đi lấy thuốc. C một mình điều khiển xe máy đến điểm hẹn, xác định đã gặp đúng người, C đưa túi tiền cho P3, P3 đưa lại cho Mua Sìa C 01 gói bằng túi nilon màu đỏ, bên trong có vật hình khối cứng, Mua Sìa C chỉ biết đấy là ma túy, không biết loại ma túy gì, C cũng không mở ra kiểm tra. Giao nhận ma túy xong, Mua Sìa C điều khiển xe máy quay lại đón Thào Thị S rồi đi về. Sau khi đưa Thào Thị S về đến nhà, Mua Sìa C đi lên khu hàng rào biên giới thuộc khu vực thôn L3, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang đưa số ma túy nhận được cho người đàn ông Trung Quốc, người này trả công cho Mua Sìa C 5.000 NDT (Năm nghìn nhân dân tệ). Thấy Thào Thị S khó khăn nên hôm sau Mua Sìa C lấy tiền của mình cho Thào Thị S 2.000.000đ (hai triệu đồng). Còn số tiền công vận chuyển ma túy là 5.000 NDT, Mua Sìa C cầm ra chợ, đổi ra tiền Việt Nam đồng được 18.000.000đ (mười tám triệu đồng), C cất ở trong két sắt để cùng với số tiền làm ăn, tích góp được của gia đình.

Tiến hành khám xét tại gia đình Mua Sìa C: Không thu giữ được ma tuý, tạm giữ số tiền 123.000.000đ (một trăm hai mươi ba triệu đồng) trong két sắt là của Mua Sìa C và gia đình, số tiền này do Mua Sìa C quản lý. Trong đó có 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) là tiền công vận chuyển ma túy (lần 1). Còn số tiền 1.030.400.000đ (một tỉ không trăm ba mươi triệu bốn trăm nghìn đồng) để trong bao tải thu giữ trên gác xép trong nhà là của Mua Sìa C, do C đi làm thuê bên Trung Quốc từ năm 2009 đến năm 2019 tích góp được. Số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của Mua Sìa C.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh, lấy lời khai Bà Giàng Thị C2 (Vợ của bị cáo Mua Sìa C) khai nhận: Chiếc két sắt của gia đình, dùng để đựng tiền. Toàn bộ số tiền của gia đình là do chồng là Mua Sìa C cất giữ quản lý, khi có việc cần chi tiêu Giàng Thị C2 sẽ hỏi Mua Sìa C lấy tiền. Số tiền trong két sắt, bà C2 chỉ nhớ có 64.000.000đ (sáu mươi bốn triệu đồng) là của gia đình, do bán 02 con trâu. Còn số tiền thu giữ trên gác xép, Giàng Thị C2 không biết nguồn gốc số tiền đó.

Lời khai bị cáo Cư Chẩn P3 thừa nhận, ngày 01/01/2022, Cư Chẩn P3 được Cư Chẩn Q2 (là anh con bác của Cư Chẩn P3 hiện trú tại thôn Ma Ngán, xã L, huyện M, tỉnh Lào Cai) thuê vận chuyển ma túy từ khu vực nhà của Cư Chẩn Q2 đến khu vực giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và huyện Q tỉnh Hà Giang giao cho một người tên là C ở Hà Giang và mang tiền về cho Cư Chẩn Q2, cụ thể:

Vào ngày 30/12/2021 Cư Chẩn P3 nhận được điện thoại của Cư Chẩn Q2 (Số điện thoại của Q2 là 0838 445 036, lưu tên trong danh bạ điện thoại của P3 là Cư Q2) thuê Cư Chẩn P3 đi vận chuyển ma túy, Cư Chẩn P3 trả lời “Nguy hiểm lắm”, Cư Chẩn Q2 nói “không sao đâu, về sẽ trả công cho 5.000.000đ”, thấy vậy Cư Chẩn P3 đồng ý. Tối ngày 31/12/2021 Cư Chẩn P3 nhận được điện thoại của Cư Chẩn Q2 bảo sang nhà lấy ma túy, Cư Chẩn P3 đi đến gần nhà Cư Chẩn Q2 gặp Q2 ở ngoài đường, Q2 đưa cho Cư Chẩn P3 02 gói ma túy, trong đó có 01 gói bằng túi nilon màu đỏ, 01 gói cuốn bằng kín bằng băng dính trong, P3 không biết trong gói là loại ma túy gì. Cư Chẩn P3 bảo không có xe, Cư Chẩn Q2 bảo P3 lấy xe của Q2 đi rồi đưa cho Cư Chẩn P3 01 xe máy exciter, biển kiểm soát 23D1-319.97 và cả giấy tờ trong cốp xe, Cư Chẩn P3 cất 02 gói ma túy vào cốp xe, điều khiển xe máy cất giấu ở bụi cây ven đường gần nhà Cư Chẩn P3 rồi về nhà đi ngủ. Khoảng 04h00 ngày 01/01/2022 Cư Chẩn P3 nhận được điện thoại của Cư Chẩn Q2 bảo chuẩn bị đi sớm. Đến khoảng 06h00 cùng ngày Cư Chẩn P3 từ nhà đi lấy xe máy và mang ma túy đi giao. Quá trình đi Cư Chẩn P3 có liên lạc với người nhận ma túy tên là C ở Hà Giang, chính là người nhận ma túy (số điện thoại của C là 0365677948, lưu tên trong danh bạ điện thoại của P3 là Cư Cng Hà Giang) để thống nhất địa điểm giao nhận ma túy. Địa điểm giao nhận ma túy là khu vực đồi giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và Hà Giang. Khoảng 10h00 Cư Chẩn P3 đến điểm hẹn, đến khoảng 14h00 thì C đến, C đưa tiền cho Cư Chẩn P3, tiền được đựng trong túi nilon màu đen, buộc kín (Cư Chẩn P3 không kiểm tra tiền), sau đó Cư Chẩn P3 đưa cho C 02 gói ma túy cho C. Giao nhận ma túy xong Cư Chẩn P3 cầm túi tiền ra xe máy, mở cốp xe dùng một chiếc áo dài tay màu xanh cuốn túi tiền lại cất trong cốp xe rồi điều khiển xe máy đi về. Trên đường đi về thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính và đưa về trụ sơ cơ quan Công an để làm việc, ( kết quả kiểm tra số tiền C giao cho P3 300.000.000đ, phù hợp với lời khai của C).

Ngoài ra Cư Chẩn P3 còn khai nhận: Vào đầu tháng 11/2021, Cư Chẩn P3 nhận được điện thoại của Cư Chẩn Q2 thuê Cư Chẩn Q2 đi vận chuyển ma túy, Q2 sẽ trả cho P3 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền công. Cư Chẩn P3 đồng ý, Q2 bảo Cư Chẩn P3 sang lấy ma túy. Đặc điểm số ma túy vận chuyển lần này là 01 túi nilon màu đỏ buộc kín, bên trong vật cứng (Cư Chẩn P3 không biết là loại ma túy gì, không được mở ra kiểm tra). P3 dùng xe máy exciter, biển kiểm soát 23D1-319.97 của Cư Chẩn Q2 mang ma túy cho người tên C ở Hà Giang. Trên đường đi Cư Chẩn P3 và Mua Sìa C liên lạc điện thoại với nhau để thống nhất địa điểm giao dịch. Địa điểm cũng giống như lần vận chuyển ngày 01/01/2022. Khi gặp C đưa tiền cho Cư Chẩn P3, tiền được đựng trong túi nilon màu đen (P3 không kiểm đếm), sau đó Cư Chẩn P3 đưa gói ma túy cho C. Giao nhận ma túy xong, Cư Chẩn P3 mang tiền về đưa lại cho Cư Chẩn Q2, Q2 trả tiền công cho Cư Chẩn P3 là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Số tiền này Cư Chẩn P3 đã nhận đủ và sử dụng chi tiêu sinh hoạt gia đình hết.

Đối với số tiền công lần vận chuyển ma túy ngày 01/01/2022, theo thỏa thuận Cư Chẩn Q2 phải trả cho Cư Chẩn P3 là 5.000.000đ (năm triệu đồng), nhưng đang trên đường quay về thì Cư Chẩn P3 bị lực lượng Công an kiểm tra, đưa về cơ quan làm việc nên Cư Chẩn P3 chưa được nhận tiền công vận chuyển lần này.

Ngày 03/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 01/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, giám định chất nghi ma túy thu giữ khi bắt quả tang Mua Sìa C ngày 01/01/2022.

Tại bản kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 08/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang. Kết luận giám định số tang vật thu giữ của Mua Sìa C:

+ Chất bột màu trắng ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Chất bột màu trắng ký hiệu A1 được trích ra từ bốn góc, ba mặt bên và trung tâm khối chất bột màu trắng có khối lượng là 346,93g (ba trăm bốn mươi sáu phẩy chín mươi ma gam).

Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

+ 06 (sáu) viên nén màu đỏ gửi giám định ký hiệu A2 là ma túy, loại ma túy Methamphetamine. 06 (sáu) viên nén màu đỏ gửi giám định ký hiệu A2 được trích ra từ 5.916 viên nén màu đỏ có tổng khối lượng là 626,28g (sáu trăm hai mươi sáu phẩy hai mươi tám gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

+ Không đủ điều kiện để phân tích các chất ma túy trong mẫu gửi giám định là 02 viên nén màu xanh ký hiệu A2 (Đề nghị chuyển Viện Khoa học hình sự Bộ Công an để giám định bổ sung). 02 viên nén màu xanh ký hiệu A2 được trích ra từ 62 viên nén màu xanh có tổng khối lượng 6,11 g (sáu phẩy mười một gam).

- Ngày 24/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số: 16/QĐ-CSMT, trưng Viện khoa học hình sự Bộ Công an, giám định chất ma túy trong 62 viên nén màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Mua Sìa C.

Tại bản kết luận giám định số 592/C09-TT2 ngày 01/2/2022 của Viện Khoa học hình sụ Bộ Công an. Kết luận giám định số 62 viên nén màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Mua Sìa C:

+ Tìm thấy Methamphetamine (ở dạng vết) trong mẫu các viên nén màu xanh gửi giám định.

Methamphetamine có STT: 323, Danh mục II, nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ghi chú: “lượng vết” nghĩa là Methamphetamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp, do đó không xác định được khối lượng Methamphetamine có trong mẫu.

- Ngày 20/01/2022, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 18/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, giám định tiền tạm giữ của Mua Sìa C và Cư Chẩn P3 ngày 01/01/2022.

Tại bản Kết luận giám định số: 69/KL-KTHS, ngày 26/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang. Kết luận giám định số tang vật (Tiền VNĐ) tạm giữ đều là tiền thật.

*Vật chứng: Cơ quan CSĐT đã thu giữ những vật chứng, chuyển sang Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang.

Cáo trạng số 25/CT-VKSHG-P1 ngày 06/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể:

Bị cáo Mua Sìa C khai nhận: ngày 1/1/2022 đã cần tiền của người Trung quốc đi giao tiền nhận hàng tổng khối lượng hai loại ma túy là: 973,21gam để được nhận tiền công 10.000 DNT.

Bị cáo Cư Chẩn P3 khai nhận ngày 01/01/2022 P3 nhận với đối tượng Cư Chẩn Q2 mang gói ma túy tổng là: 973,21gam giao cho C tại huyện Q cầm tiền về đưa cho Q2 để nhận tiền công 4.000.0000đ

Các bị cáo nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo về hành vi "Vận chuyển trái phép chất ma túy" gồm: 01 bánh ma tuý hình chữ nhật (Heroine) có khối lượng 346,93gam và 01 gói ma tuý tổng hợp dạng viên ( Methamphetamine) có khối lượng 626,28gam ( tổng khối lượng hai loại ma túy là: 973,21gam)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Giàng Thị C2 trình bày: Số tiền trong két sắt, bà C2 chỉ nhớ có 64.000.000đ (sáu mươi bốn triệu đồng) là của gia đình, do bán 02 con trâu, đề nghị xin lại số tiền về sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang thực hành quyền công tố, kiểm sát, xét xử tại phiên tòa: Luận tội các bị cáo, đưa ra các chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo; giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo Mua Sìa C và Cư Chẩn P3 về tội danh và điều luật đã truy tố. Phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và vai trò của từng bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo: Hành vi của các bị cáo thực hiện là đặc biệt nguy hiểm, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý; đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và vi phạm pháp luật hình sự, do vậy cần phải được xử lý bằng hình sự. Bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 vận chuyển trái phép 01 bánh ma tuý hình chữ nhật (Heroine) có khối lượng 346,93gam và 01 gói ma tuý tổng hợp dạng viên ( Methamphetamine) có khối lượng 626,28gam ( tổng khối lượng hai loại ma túy là: 973,21gam) đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 phạm tội " Vận chuyển trái phép chất ma túy ".

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58, Điều 50, Điều 39 Bộ luật hình sự. đề nghị: Xử phạt Bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 tù chung thân ( thời hạn tù tính từ ngày 1/1/2022).

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 điều 250 BLHS đề nghị :

+Phạt 5.000.000đ – 10.000.000đ đối với Cư Chẩn P3.

+Phạt 40.000.000đ - 50.000.000đ đối với bị cáo Mua Sìa C.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước

- 318.000.000đ (trong đó thu của Cư Chẩn P3 300.000.000đ tiền nhận từ C để chao đổi gói ma túy và của 18.000.000đ của Mua Sìa C tiền công vận chuyển ma túy lần 1) .

- 01 xe máy biển kiểm soát 23N1-133.88 loại xe AIR BLADE màu đỏ trắng. (thu giữ của Mua Sìa C) liên quan vận chuyển chất ma túy

- 01 xe máy biển kiểm soát 23D1-319.97 loại xe EXCITER màu xanh trắng. (thu giữ của Cư Chẩn P3) liên quan vận chuyển chất ma túy

- 02 chìa khóa xe máy.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018955 mang tên Sìn Văn Hải.

- 01 điện thoại viền màn hình bị nứt, mặt sau màu vàng nâu có chữ VIVO. (thu giữ của Mua Sìa C) dùng để giao dịch khi chao đổi vận chuyển chất ma túy.

- 01 điện thoại mặt sau màu xanh có chữ OPPO, ốp lưng điện thoại bằng nhựa. (thu giữ của Cư Chẩn P3) dùng để giao dịch khi chao đổi vận chuyển chất ma túy.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010679 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23N1-133.88.

Tịch thu tiêu hủy

- 01 ví giả da màu cam, đã qua sử dụng.

- 01 quần dài, loại quần mưa màu xanh

- 01 hộp bìa cát tông niêm phong kín bằng dải giấy niêm phong, mặt trước hộp ghi “Mẫu vật còn lại sau khi gửi giám định vụ Mua Sìa C, Cư Chẩn P3”, dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang và các chữ viết, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, nhãn hiệu K.I.D FASHION Hiếu Bình đã qua sử dụng.

- 01 túi niêm phong cũ đã bị cắt mép, mặt trước ghi “Tiền tạm giữ của Cư Chẩn P3 ngày 01/01/2022”.

- 01 phong bì màu trắng niêm phong kín số 592/C09(TT2), mặt sau có 05 hình dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký, ghi họ tên của Đặng Thị T, Nguyễn Tiến H.

- 01 hộp bìa giấy cát tông vàng đen được niêm phong kín bằng các dải niêm phong màu trắng, trên dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thùy L4, Đỗ Đức L5, Nguyễn Thị K.

- 03 túi niêm phong cũ màu nâu vàng; 11 túi nilon màu trắng

- 01 lớp giấy nến màu vàng nâu trên mỗi mặt của lớp giấy nên có chữ A và 01 chữ nước ngoài màu đỏ; 02 túi nilon màu vàng

- 01 mảnh lớp túi dán bằng băng dính trong suốt

- 01 lớp giấy nến màu vàng nâu một mặt có chữ Y1 màu xanh, một mặt có chữ nước ngoài màu xanh

- 03 mảnh giấy màu trắng; 32 túi nilon màu xanh; 21 dây cao su mày vàng; 02 hộp bìa cát tông niêm phong cũ; 01 bao tải bên ngoài ghi “gạo đặc sản hương lài Nhật”; 01 túi nilon màu đỏ;01 túi nilon màu đen

Trả lại cho bị cáo Cư Chẩn P3

- 01 thẻ bảo hiểm y tế số DT 2101020234017; 01 giấy phép lái xe số AV 223396 mang tên Cư Chẩn P3 và 369.000đ

Trả cho bị cáo Mua Sìa C

- Số tiền 1.137.640.000đ thu giữ của Mua Sìa C ngày 01/01/2022. (Tạm giữ để bảo đảm thi hành án)

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 069765 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23B1-620.05.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 15, Điều 14, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo vì có đơn xim miễn án phí.

Người bào chữa cho các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 có nội dung bào chữa: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo, luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng, án phí đối với các bị cáo. Đề nghị HĐXX phạt bị cáo C, P3 20 năm tù và miễn án phí cho các bị cáo

Phần tranh luận: Các bị cáo nhất trí với luận tội và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tại phiên tòa, nhất trí với nội dung bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo, không có ý kiến bổ sung; đề nghị xét xử các bị cáo mức án thấp nhất.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đã biết hành vi vận chuyển trái phép ma túy để lấy tiền công là vi phạm pháp luật, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ nhận thức về pháp luật còn hạn chế; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo được trở về với cộng đồng và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà người bào chữa vắng mặt (có đỡnin giải quyết vắng mặt). Sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo; xét thấy: Căn cứ Điều 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định tiếp tục tiến hành xét xử.

[3] Về tội danh và định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố Mua Sìa C; Cư Chẩn P3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình tại các BL:308-340; 341-365; Kết luận giám định BL: 116; Biên bản bắt người phạm tội quả tang BL: 01-02; Biên bản vụ việc BL: 04-06; Lời khai của Người làm chứng. BL: 386-393 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Mua Sìa C và Cư Chẩn P3 ngày 01/01/2022 đã vận chuyển 01 bánh ma tuý hình chữ nhật (Heroine) có khối lượng 346,93gam và 01 gói ma tuý tổng hợp dạng viên ( Methamphetamine) có khối lượng 626,28gam ( tổng khối lượng hai loại ma túy là: 973,21gam) địa điểm giao dịch tại huyện Q đã thanh toán: 300.000.000đ và nhận gói chất ma túy trên đường về thì bị bắt giữ cùng tang vật.

[4] Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 08/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang. Kết luận giám định số tang vật thu giữ của Mua Sìa C:

[4.1] Chất bột màu trắng ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Chất bột màu trắng ký hiệu A1 được trích ra từ bốn góc, ba mặt bên và trung tâm khối chất bột màu trắng có khối lượng là 346,93g (ba trăm bốn mươi sáu phẩy chín mươi ma gam).

[4.2] Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

[4.3] 06 (sáu) viên nén màu đỏ gửi giám định ký hiệu A2 là ma túy, loại ma túy Methamphetamine. 06 (sáu) viên nén màu đỏ gửi giám định ký hiệu A2 được trích ra từ 5.916 viên nén màu đỏ có tổng khối lượng là 626,28g (sáu trăm hai mươi sáu phẩy hai mươi tám gam).

[4.4] Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

[4.5] Không đủ điều kiện để phân tích các chất ma túy trong mẫu gửi giám định là 02 viên nén màu xanh ký hiệu A2 (Đề nghị chuyển Viện Khoa học hình sự Bộ Công an để giám định bổ sung). 02 viên nén màu xanh ký hiệu A2 được trích ra từ 62 viên nén màu xanh có tổng khối lượng 6,11 g (sáu phẩy mười một gam).

[4.6] Tại bản kết luận giám định số 592/C09-TT2 ngày 01/2/2022 của Viện Khoa học hình sụ Bộ Công an. Kết luận giám định số 62 viên nén màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Mua Sìa C:

[4.7] Tìm thấy Methamphetamine (ở dạng vết) trong mẫu các viên nén màu xanh gửi giám định.

[4.8] Methamphetamine có STT: 323, Danh mục II, nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

[4.9] Ghi chú: “lượng vết” nghĩa là Methamphetamine trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp, do đó không xác định được khối lượng Methamphetamine có trong mẫu.

[5] Tại bản Kết luận giám định số: 69/KL-KTHS, ngày 26/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang. Kết luận giám định số tang vật (Tiền VNĐ) tạm giữ đều là tiền thật.

[6] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định Heroine cũng như cách xác định để áp dụng tính khối lượng Heroine đối với ma túy.

[7] Các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; song vì lợi ích vật chất, vận chuyển ma túy thu được lợi nhuận cao; các bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy Heroine với khối lượng gam. Hành vi của các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; xâm phạm đến sức khỏe và nòi giống của dân tộc, đe dọa đến an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến đạo đức, danh dự, nhân phẩm, hạnh phúc của mỗi gia đình khi có người nghiện ma túy .Hành vi của các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 đã phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung "Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên"; có khung hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

[8] Về vai trò của các bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội: Mặc dù trong vụ án các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 không phải là người chủ mưu; song khi được rủ rê, lôi kéo vào việc vận chuyển trái phép chất ma túy và trả tiền công cao, các bị cáo đã nhận lời và thực hiện, trong đó: Bị cáo C thực hiện vận chuyển trái phép chất ma túy 01 bánh ma tuý hình chữ nhật (Heroine) có khối lượng 346,93gam và 01 gói ma tuý tổng hợp dạng viên ( Methamphetamine) có khối lượng 626,28gam ( tổng khối lượng hai loại ma túy là: 973,21gam) do bị cáo mua của Cư Chẩn P3 ở Lào Cai, giao dịch mua bán tại huyện Q và bị cáo P3 đã nhận thanh toán số tiền: 300.000.000đ, trên đường về thì bị bắt giữ cùng tang vật. Các bị cáo phạm tội không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có tính chất đồng phạm giản đơn, do đó các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của các bị cáo đã gây ra; song về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân liên quan đến bị cáo thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó; cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đối với các bị cáo.

[9] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 không có tình tiết tăng nặng.

[10] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 đã nhận thức được rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự về căn cứ quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[11] Về Hình phạt chính: Các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy Heroine, Methamphetamine với số lượng đặc biệt lớn; hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội; trong việc thực hiện vận chuyển số lượng ma túy đặc biệt lớn, cần áp dụng Điều 39 Bộ luật Hình sự cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội không thời hạn để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và gia đình.

[12] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghè hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản"; xét thấy các bị cáo thực hiện vận chuyển trái phép chất ma túy với động cơ, mục đích là nhận tiền công; do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[13] Vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng như sau:

[14] Tịch thu sung công quỹ nhà nước

[14.1] 318.000.000đ (trong đó thu của Cư Chẩn P3 300.000.000đ tiền nhận từ C và 18.000.000đ của Mua Sìa C tiền công vận chuyển lần 1)

[14.2] 01 xe máy biển kiểm soát 23N1-133.88 loại xe AIR BLADE màu đỏ trắng. (thu giữ của Mua Sìa C).

[14.3] 01 xe máy biển kiểm soát 23D1-319.97 loại xe EXCITER màu xanh trắng. (thu giữ của Cư Chẩn P3).

[14.4] 02 chìa khóa xe máy.

[14.5] 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018955 mang tên Sìn Văn Hải.

[14.6] 01 điện thoại viền màn hình bị nứt, mặt sau màu vàng nâu có chữ VIVO. (thu giữ của Mua Sìa C).

[14.7] 01 điện thoại mặt sau màu xanh có chữ OPPO, ốp lưng điện thoại bằng nhựa. (thu giữ của Cư Chẩn P3)

[14.8] 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010679 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23N1-133.88.

[15] Tịch thu tiêu hủy

[15.1] 01 ví giả da màu cam, đã qua sử dụng; 01 quần dài, loại quần mưa màu xanh

[15.2] 01 hộp bìa cát tông niêm phong kín bằng dải giấy niêm phong, mặt trước hộp ghi “Mẫu vật còn lại sau khi gửi giám định vụ Mua Sìa C, Cư Chẩn P3”, dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang và các chữ viết, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

[15.3] 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, nhãn hiệu K.I.D FASHION Hiếu Bình đã qua sử dụng.

[15.4] 01 túi niêm phong cũ đã bị cắt mép, mặt trước ghi “Tiền tạm giữ của Cư Chẩn P3 ngày 01/01/2022”.

[15.5] 01 phong bì màu trắng niêm phong kín số 592/C09(TT2), mặt sau có 05 hình dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký, ghi họ tên của Đặng Thị T, Nguyễn Tiến H.

[15.6] 01 hộp bìa giấy cát tông vàng đen được niêm phong kín bằng các dải niêm phong màu trắng, trên dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thùy L4, Đỗ Đức L5, Nguyễn Thị K.

[15.7] 03 túi niêm phong cũ màu nâu vàng; 11 túi nilon màu trắng.

[15.8] 01 lớp giấy nến màu vàng nâu trên mỗi mặt của lớp giấy nên có chữ A và 01 chữ nước ngoài màu đỏ; 02 túi nilon màu vàng

[15.9] 01 mảnh lớp túi dán bằng băng dính trong suốt

[15.10] 01 lớp giấy nến màu vàng nâu một mặt có chữ Y1 màu xanh, một mặt có chữ nước ngoài màu xanh

[15.11] 03 mảnh giấy màu trắng; 32 túi nilon màu xanh; 21 dây cao su mày vàng; 02 hộp bìa cát tông niêm phong cũ; 01 bao tải bên ngoài ghi “gạo đặc sản hương lài Nhật”; 01 túi nilon màu đỏ; 01 túi nilon màu đen

[16] Trả lại cho Cư Chẩn P3

[16.1] 01 thẻ bảo hiểm y tế số DT 2101020234017; 01 giấy phép lái xe số AV 223396 mang tên Cư Chẩn P3 và 369.000đ [17] Trả lại cho Mua Sìa C

[17.1] Số tiền: 1.137.640.000đ thu giữ của Mua Sìa C ngày 01/01/2022.

[17.2] 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 069765 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23B1-620.05 (Tình trạng vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/9/2022 giữa phòng PC04 – Công an tỉnh Hà Giang và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang)

[18] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn tiền án phí. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 15, Điều 14, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo C, P3

[19] Từ những nhận định nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang truy tố các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 về tội " Vận chuyển trái phép chất ma túy" quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Phát biểu luận tội và đề nghị về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng, án phí của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đối với các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[20] Người bào chữa cho các bị cáo trong bản luận cứ có nội dung đề nghị về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. Tuy nhiên, đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 20 năm tù là chưa đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm và vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[21] Trong vụ án này còn có các đối tương liên quan:

[22] Đối với Thào Thị S: Ngày 1/1/2022 có đi cùng Mua Sìa C đến Q và thừa nhận trước đó vào đầu tháng 11/2021, Thào Thị S cũng được Mua Sìa C rủ đi Q chơi và lấy thuốc. Khi đi đến Q thì Mua Sìa C bảo Thào Thị S xuống xe đợi, một lúc sau Mua Sìa C quay lại đón Thào Thị S đi về. S không biết Mua Sìa C đi vận chuyển ma túy. Không có căn cứ xác định S đồng phạm với C nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

[23] Đối với Cư Chẩn Q2: Kết quả tra cứu số điện thoại 0838 445 036 (Cư Chẩn P3 khai là số điện thoại của Cư Chẩn Q2) tại Ban kiểm tra - pháp chế - thanh tra Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam xác định: Chủ thuê bao là Cừ Chấn Quảng, CMND số 063359017.

[24] Căn cứ vào kết quả xác minh Cơ quan điều tra đã ra Quyết định Truy tìm đối tượng đối với Cư Chẩn Q2. Ngày 19/8/2022 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang đã có công văn số: 04/CSMT báo cáo, thông tin về đối tượng hoạt động Mua bán ma túy liên quan đến nhiều địa phương, đến Cục C04-Bộ Công an về áp dụng các biện pháp nghiệp vụ và đấu tranh chuyên án, phối hợp với đơn vị chức năng Công an tỉnh Lào Cai tiếp tục xác minh. Nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[25] Đối với người đàn ông người Trung Quốc: Thuê C vận chuyển ma tuý, Mua Sìa C có lưu số điện thoại của người này để tiện liên lạc (số điện thoại +8613652701021 lưu là Yawlov). Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu số điện thoại tại Sở thông tin và truyền thông tỉnh Hà Giang, kết quả dữ liệu do Liên minh Viễn thông Quốc tế - ITU công bố về mã nước, mã khu vực, mã dịch vụ quốc tế, mã “86” là mã điện thoại quốc tế của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh. Nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[26] Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy".

2. Hình phạt

* Hình phạt chính:

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 39 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mua Sìa C; xử phạt bị cáo Mua Sìa C tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 01/01/2022.

- Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 39 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cư Chẩn P3 xử phạt bị cáo Cư Chẩn P3 tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 01/01/2022.

* Hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 5 Điều 250 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Mua Sìa C số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng). bị cáo Cư Chẩn P3 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước

- 318.000.000đ (ba trăm mười tám triệu đồng)

- 01 xe máy biển kiểm soát 23N1-133.88 loại xe AIR BLADE màu đỏ trắng, bên phải đầu xe không có gương, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe, không kiểm tra máy bên trong của xe, biển kiểm soát 23N1-133.88 có só khung RLHJF6327KZ226991, số máyJF63E2675051, đã qua sử dụng. (thu giữ của Mua Sìa C).

- 01 xe máy loại xe EXCITER, màu xanh trắng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe, không kiểm tra máy bên trong của xe, biển kiểm soát 23D1-319.97 , có số khung RLCE55P10EY475062, số máy 55p1475081, đã qua sử dụng (xe máy của Sìn Văn Hải) (thu giữ của Cư Chẩn P3).

- 02 chìa khóa xe máy.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018955 mang tên Sìn Văn Hải.

- 01 điện thoại di động có chữ VIVO mặt sau màu vàng nâu, viền màn hình bị nứt, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không bật nguồn không kiểm tra được tình trạng hoạt động bên trong của điện thoại (thu giữ của Mua Sìa C).

- 01 điện thoại di động có chữ OPPO, mặt sau màu xanh ốp lưng điện thoại bằng nhựa, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không bật nguồn không kiểm tra được tình trạng hoạt động bên trong của điện thoại (thu giữ của Cư Chẩn P3)

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010679 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23N1-133.88.

Tịch thu tiêu hủy

- 01 ví giả da màu cam, đã qua sử dụng.

- 01 quần dài, loại quần mưa màu xanh

- 01 hộp bìa cát tông niêm phong kín bằng dải giấy niêm phong, mặt trước hộp ghi “Mẫu vật còn lại sau khi gửi giám định vụ Mua Sìa C, Cư Chẩn P3”, dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Giang và các chữ viết, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- 01 áo sơ mi dài tay màu xanh, nhãn hiệu K.I.D FASHION Hiếu Bình đã qua sử dụng.

- 01 túi niêm phong cũ đã bị cắt mép, mặt trước ghi “Tiền tạm giữ của Cư Chẩn P3 ngày 01/01/2022”.

- 01 phong bì màu trắng niêm phong kín số 592/C09(TT2), mặt sau có 05 hình dấu tròn đỏ của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký, ghi họ tên của Đặng Thị T, Nguyễn Tiến H.

- 01 hộp bìa giấy cát tông vàng đen được niêm phong kín bằng các dải niêm phong màu trắng, trên dải niêm phong có hình dấu tròn đỏ của Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thùy L4, Đỗ Đức L5, Nguyễn Thị K.

- 03 túi niêm phong cũ màu nâu vàng

- 11 túi nilon màu trắng; 02 túi nilon màu vàng.

- 01 lớp giấy nến màu vàng nâu trên mỗi mặt của lớp giấy nên có chữ A và 01 chữ nước ngoài màu đỏ

- 01 mảnh lớp túi dán bằng băng dính trong suốt

- 01 lớp giấy nến màu vàng nâu một mặt có chữ Y1 màu xanh, một mặt có chữ nước ngoài màu xanh

- 03 mảnh giấy màu trắng; 32 túi nilon màu xanh

- 21 dây cao su mày vàng; 02 hộp bìa cát tông niêm phong cũ

- 01 bao tải bên ngoài ghi “gạo đặc sản hương lài Nhật”

- 01 túi nilon màu đỏ; 01 túi nilon màu đen Trả lại cho bị cáo Cư Chẩn P3

- 01 thẻ bảo hiểm y tế số DT 2101020234017; 01 giấy phép lái xe số AV 223396 mang tên Cư Chẩn P3 và 369.000đ

Trả cho bị cáo Mua Sìa C

- Số tiền 1.137.640.000đ thu giữ của Mua Sìa C ngày 01/01/2022.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 069765 mang tên Mua Sìa C, biển số đăng ký 23B1-620.05.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản bàn giao ngày 06/9/2022 giữa Phòng PC04 Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang)

4. Về án phí

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 15, Điều 14, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Mua Sìa C, Cư Chẩn P3.

5. Quyền kháng cáo

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ