- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản, bị cáo Lương Hoàng A, Vũ Hoài N - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Lương Hoàng A 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HS-ST Ngày 14-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính; Cán bộ hưu trí quận Kiến An;
Bà Phạm Thị Hải – Bí thư Đoàn phường Đồng Hòa, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 583/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022; đối với các bị cáo:
1. Lương Hoàng A, tên gọi khác: Không, sinh ngày 03/8/2005 (Khi phạm tội bị cáo Lương Hoàng A 17 năm 01 tháng 05 ngày tuổi); giới tính: Nam; nơi sinh: Hải Phòng; nơi thường trú và chỗ ở: Số 3K7 tổ K 4, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Dân tộc Kinh. Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 10/12. Con ông Lương Văn H, sinh năm 1973; con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1977; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: Ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân quận Kiến An xử phạt Lương Hoàng A 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2022, chuyển tạm giam ngày 16/9/2022 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng.
2. Vũ Hoài N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 23/7/2005 (Khi phạm tội bị cáo Vũ Hoài N 17 năm 01 tháng 15 ngày tuổi); giới tính: Nam; nơi sinh: Hải Phòng; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn N 3, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Dân tộc Kinh. Quốc tịch Việt Nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 11/12. Con ông Vũ Trung D, sinh năm 1976; con bà Ngô Thị H, sinh năm 1982; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: Ngày 20/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão khởi tố bị can đối với Vũ Hoài N về tội “Gây rối trật tự công cộng” để tiến hành điều tra. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2022, chuyển tạm giam ngày 16/9/2022 tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng.
(Các bị cáo đều có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Hoàng A: Ông Lương Văn H (Bố của bị cáo Hoàng A); địa chỉ: Số 3K7, tổ K 4, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng, (Có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Hoài N đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Trung D (Bố của bị cáo N); địa chỉ: Thôn N 3, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N: Ông Trần Minh N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng, (Có mặt).
- Bị hại: Phạm Lâm T; sinh ngày 12/8/2006; (Tại thời điểm bị chiếm đoạt tài sản, bị hại Phạm Lâm T 16 năm 27 ngày tuổi) địa chỉ: Thôn 13, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Lâm T: Bà Phạm Thị Hương G; địa chỉ: Thôn 13, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Vũ Thị Thu H (có mặt); Nguyễn Thị H và Nguyễn Ngọc H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Vũ Hoài N và Lương Hoàng A cùng bàn bạc tìm cách chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn, đăng hình nội dung rao bán xe mô tô lên mạng xã hội Facebook để tìm người hỏi mua xe. Sau khi thực hiện giao dịch mua bán xe, N và Hoàng A sẽ không giao xe và tìm cách chiếm đoạt số tiền của người mua. N đã chụp ảnh xe môtô Honda Vision, biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 của gia đình, rồi lập tài khoản Facebook tên “Trung Anh”. Hoàng A sử dụng tài khoản này đăng các hình ảnh xe môtô lên mạng xã hội Facebook rao bán với nội dung là xe không giấy tờ, bán với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, N và Hoàng A đã sử dụng tài khoản Facebook tên “Trung Anh” nhắn tin, trao đổi với tài khoản Facebook tên “T Em” (là tài khoản của Phạm Lâm T, sinh ngày 12/8/2006, Nơi cư trú: Thôn 13, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng) về việc mua bán chiếc xe mô tô trên với giá là 6.800.000 đồng.
Khoảng 09h ngày 08/9/2022, Nam điều khiển xe môtô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 đến nhà Hoàng A ở phường N, quận K, thành phố Hải Phòng để đón Hoàng A. Rồi, cả hai quay về nhà N lấy hung khí là 01 cây gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn) dùng để đe dọa hoặc đánh T nhằm chiếm đoạt tiền. Trên đường đi, Hoàng A và N đã thỏa thuận sau khi chiếm đoạt được tiền, Hoàng A được hưởng lợi 2.800.000 đồng, còn 4.000.000 đồng thì N được hưởng. Do không thể cầm theo gậy kim loại đi gặp T, nên N và Hoàng A đã giấu cây gậy kim loại ở khu vực nghĩa trang Cựu Viên thuộc ngõ 47/373 Lê Duẩn, tổ 9 phường Bắc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Khoảng gần 12 giờ cùng ngày, N và Hoàng A gặp T tại khu vực ngã 6 Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Thỏa thuận xong việc mua bán xe, T chuyển khoản số tiền 6.800.000 đồng theo hướng dẫn của N vào số tài khoản 289999992004, tên chủ tài khoản Vũ Thị Thu H, ngân hàng Quân đội MB Bank, là tài khoản của chị Vũ Thị Thu H (sinh năm 2004, nơi cư trú: Xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, là chị gái của N). N và Hoàng A không giao xe cho T mà nhờ T cho N và Hoàng A đi nhờ xe về nhà với mục đích tìm địa điểm vắng người sẽ đe dọa hoặc đánh T, không giao xe cho T và chiếm đoạt số tiền 6.800.000 đồng mà T đã chuyển khoản. Khi Hoàng A, N và T cùng đi xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 về đến khu vực nghĩa trang Cựu Viên thuộc ngõ 47/373 Lê Duẩn, tổ 9 phường Bắc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng là nơi vắng người qua lại. Hoàng A xuống xe, đi bộ ra vị trí lúc trước cất giấu cây gậy kim loại, N xuống xe đứng cạnh T. Hoàng A cầm cây gậy quay lại, dùng tay phải vụt 2 – 3 nhát vào lưng của T. Ngay lập tức, T rút chìa khóa xe mô tô và chạy bộ vào nhà người dân gần đó. N và Hoàng A tiếp tục đuổi theo, Hoàng A cầm gậy kim loại tiếp tục đánh nhiều nhát vào người T. N chạy đến lấy chiếc chìa khóa xe và quay lại ngồi lên xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát:15D1 – 257.78 nổ máy phóng đi được khoảng 1 mét thì T đuổi theo kéo xe lại làm N và xe ngã đổ xuống đường. Lúc này, Hoàng A tiếp tục cầm gậy đánh vào người T, còn N dùng tay chân đấm đá vào người T. T hô hoán kêu cứu thì được quần chúng nhân dân cùng Công an phường Bắc Sơn phát hiện bắt giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng gồm: 01 gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn), 01 xe môtô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78.
Tại Cơ quan điều tra, Lương Hoàng A và Vũ Hoài N khai nhận phù hợp nội dung trên. Nguồn gốc xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 đứng tên ông Vũ Trung D (sinh năm 1976, nơi cư trú: Thôn N 3, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, là bố đẻ của N). Số tài khoản ngân hàng của chị H do N vẫn sử dụng chung với chị H, chị H và ông D không biết, không liên quan đến hành vi cướp tài sản của N và Hoàng A. N và Hoàng A đã tác động cùng gia đình tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho T tổng số tiền là 2.000.000 đồng.
Chị Vũ Thị Thu H khai, chị Hiền sử dụng tài khoản ngân hàng MB Bank số 289999992004 từ năm 2021, ngoài chị H còn có Vũ Hoài N cùng sử dụng tài khoản này để giao dịch tiền chung. Ngày 08/9/2022, chị H kiểm tra tài khoản thấy biến động số dư tài khoản 6.800.000 đồng, người chuyển tiền tên Phạm Lâm T. Chị H không biết người chuyển tiền là ai, chuyển tiền vì lý do gì. Sau khi biết đây là số tiền mà Vũ Hoài N đã chiếm đoạt của T, chị H đã tự nguyện giao nộp lại số tiền trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An.
Bị hại Phạm Lâm T khai phù hợp với lời khai của Hoàng A và N như nội dung trên. Bị hại đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt là 6.800.000 đồng. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng A và N về hành vi gây thương tích cho T và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lương Hoàng A và Vũ Hoài N, đồng thời không có yêu cầu bồi thường.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Kiến An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối Lương Hoàng A và Vũ Hoài N về tội “Cướp tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng số 60/CT-VKSKA ngày 23/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố Lương Hoàng A và Vũ Hoài N về tội “Cướp tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N phạm tội “Cướp tài sản”;
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 91, Điều 101, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lương Hoàng A từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 43/2022/HS-ST, ngày 19/9/2022, Tòa án nhân dân quận Kiến An, hình phạt chung của hai bản án Lương Hoàng A phải thi hành từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 09 tháng tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt Vũ Hoài N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đều dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lương Hoàng A và Vũ Hoài N.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại anh Vũ Trung D 01 chiếc xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 15D1 – 257.78; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn).
Bị cáo Lương Hoàng A, Vũ Hoài N,(Đại diện hợp pháp của các bị cáo) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Các bị cáo không có ý kiến gì đối với quan điểm luận tội của Viện Kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N: Đều nhất trí với các lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến độ tuổi của các bị cáo, nhận thức và suy nghĩ còn hạn chế, hành động bồng bột, nhất thời phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội trở về với gia đình cải sửa lỗi lầm.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị, tuy nhiên mức hình phạt mà đại diện Viện Kiếm sát đề nghị từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù đối với bị cáo Lương Hoàng A và từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Vũ Hoài N là quá nặng bởi lẽ:
Các bị cáo khi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, suy nghĩ còn bồng bột, đang ở độ tuổi ngang ngạnh, muốn thể hiện mình, nhất thời phạm tội, sau khi bị giam giữ, các bị cáo đã nhận ra hậu quả mà mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật và đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình. Với nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì hình phạt đối với các bị cáo chỉ nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, nhưng tại phiên tòa hôm nay Viện Kiểm sát đưa ra mức hình phạt đối với các bị cáo là quá nặng, không phù hợp với độ tuổi của các bị cáo, không phù hợp quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đều đều là người dưới 18 tuổi, đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N.
Ý kiến đối đáp của đại diện Viện Kiểm sát: Mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đã được Viện Kiểm sát cân nhắc, xem xét trên cơ sở tính chất vụ án, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò đồng phạm của các bị cáo, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An khẳng định mức hình phạt mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đề nghị là phù hợp và vẫn giữ nguyên quan điểm như bản luận tội.
Ý kiến của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Trung D: Ông Vũ Trung D là chủ sở hữu xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 và gậy kim loại là vật chứng trong vụ án. Tại phiên tòa ông Vũ Trung D đề nghị được nhận lại xe mô tô, không có nguyện vọng được nhận lại gậy kim loại. Ông D không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Sau một thời gian bị tạm giam, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý, các bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và gia đình của bị cáo và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng Nguyễn Thị H và Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường, đã có lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng đã có lời khai trực tiếp tại cơ quan điều tra; việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của những người vắng mặt.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Lương Hoàng A và Vũ Hoài Nam có hành vi dùng gậy kim loại, dùng tay, chân đánh Phạm Lâm T nhằm chiếm đoạt số tiền 6.800.000 đồng. Hành vi của Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đã vi phạm Điều 168 Bộ luật Hình sự, phạm tội “Cướp tài sản". Bị cáo Lương Hoàng A sử dụng gậy kim loại (Dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn) tấn công bị hại, có khả năng gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, đây được xác định là dùng phương tiện nguy hiểm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
d) Sử dụng ... phương tiện ... nguy hiểm ...”
Mặc dù Vũ Hoài N không trực tiếp sử dụng gậy kim loại tấn công Phạm Lâm T nhưng Vũ Hoài N và Lương Hoàng A cùng chuẩn bị, bàn bạc, thống nhất sử dụng gậy kim loại để tấn công bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản do vậy Lương Hoàng A và Vũ Hoài N cùng phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố Lương Hoàng A, Vũ Hoài N ra trước Toà án nhân dân quận Kiến An để xét xử về tội danh theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, một trong những quyền được pháp luật bảo vệ, mặt khác còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân vì vậy pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm, cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị hại Phạm Lâm T biết bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N có mục đích chiếm đoạt tài sản, Phạm Lâm T đã rút chìa khóa xe mô tô chạy vào nhà dân nhằm ngăn cản bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đã đuổi theo dùng gậy kim loại để vụt, dùng chân tay đấm đá để lấy lại chìa khóa xe nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đến cùng. Do vậy bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngày 19/9/2022 Tòa án nhân dân quận Kiên An xử phạt bị cáo Lương Hoàng A 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bản án này đã có hiệu lực pháp luật nhưng không xác định là tiền án, bởi lẽ: Khi bị cáo thực hiện hành vi “Cướp tài sản” ngày 08/9/2022 thì hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo chưa bị xét xử. Theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự thì Bản án 43/2022/HS-ST, ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Kiến An sẽ được tổng hợp trong bản án này. Mặc dù Bản án 43/2022/HS-ST, ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Kiến An không xác định là tiền án, không đánh giá hành vi của bị cáo là tái phạm nhưng đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu.
Ngày 20/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, khởi tố bị can đối với Vũ Hoài N về tội “Gây rối trật tự công cộng” để tiến hành điều tra; mặc dù vụ án này chưa được xét xử nhưng qua đó cũng đã thể hiện bị cáo coi thường pháp luật; không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lương Hoàng A, Vũ Hoài N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lương Hoàng A có ông nội là Lương Văn T được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba vì vậy bị cáo Lương Hoàng A còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này bi cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N cùng bàn bạc, lên kế hoạch và thống nhất thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo Vũ Hoài N là người cung cấp phương tiện, công cụ và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi dùng chân tay đấm đá bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản; bị cáo Lương Hoàng A là người khởi xướng và là người trực tiếp sử dụng thanh kim loại để tấn công bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản. Vai trò của bị cáo Lương Hoàng A trong vụ án này được đánh giá cao hơn vai trò của bị cáo Vũ Hoài N, nên hình phạt đối với bị cáo Lương Hoàng A sẽ cao hơn bị cáo Vũ Hoài N.
Khi phạm tội bị cáo Lương Hoàng A, Vũ Hoài N, vừa bước qua tuổi 17, suy nghĩ còn bồng bột, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hình phạt đối với các bị cáo ở độ tuổi này chỉ nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm. Tại phiên tòa Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đề nghị xử phạt bị cáo Lương Hoàng A từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, xử phạt bị cáo Vũ Hoài N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù là quá nặng, chưa phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”; “.... Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự. Vì vậy áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Lương Hoàng A và Vũ Hoài N là phù hợp, đề nghị của người bào chữa là có cơ sở được chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung:
Do Lương Hoàng A, Vũ Hoài N đều dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lương Hoàng A, Vũ Hoài N.
Đối với hành vi của Lương Hoàng A và Vũ Hoài N sử dụng cây gậy kim loại và tay chân đánh gây thương tích cho Phạm Lâm T, làm giảm 3% sức khỏe. Bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lương Hoàng A và Vũ Hoài N về hành vi này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An không xử lý đối với Lương Hoàng A và Vũ Hoài N về tội Cố ý gây thương tích.
Đối với việc Vũ Hoài N sử dụng xe mô tô của ông Vũ Trung D và sử dụng tài khoản ngân hàng của chị Vũ Thị Thu H để cùng với Lương Hoàng A thực hiện hành vi cướp tài sản vào ngày 08/9/2022, do ông D và chị H không biết, không liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An không xử lý.
- Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 6.800.000 đồng, 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 và 01 gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn).
Đối với số tiền 6.800.000 đồng là tiền của Phạm Lâm T bị Lương Hoàng A và Vũ Hoài N chiếm đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Phạm Lâm T.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát: 15D1 – 257.78 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã xác định là tài sản của ông Vũ Trung D, cần trả lại ông Vũ Trung D.
Đối với 01 gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Kiến An đã xác định là đồ vật của ông Vũ Trung D, tuy nhiên tại phiên tòa ông Vũ Trung D đề nghị không nhận lại gậy kim loại này, gậy kim loại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Bị cáo Lương Hoàng A, Vũ Hoài N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản riêng nên người đại diện hợp pháp của các bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm thay các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, Điều 101, khoản 1 Điều 54, Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lương Hoàng A 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”,
Tổng hợp hình phạt với bản án số 43/2022/HS-ST, ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân quận Kiến An đã xử phạt Lương Hoàng A 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hình phạt chung của hai bản án Lương Hoàng A phải thi hành là 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 08/9/2022,
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, Điều 101, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Vũ Hoài N 06 (Sáu) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ 08/9/2022.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: Trả lại ông Vũ Trung D 01 chiếc xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 15D1 – 257.78; tịch thu tiêu hủy 01 gậy kim loại (dài 95cm, đường kính 2cm, một đầu bằng, một đầu vát nhọn). Theo Biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lương Hoàng A, bị cáo Vũ Hoài N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Hoàng A, bị cáo Vũ Hoài N nộp án phí hình sự sơ thẩm thay các bị cáo.
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo Lương Hoàng A, bị cáo Vũ Hoài N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ông Vũ Trung D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại Phạm Lâm T, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hải Phòng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Hải Phòng, quận Kiến An;
- Công an quận Kiến An;
- Thi hành án quận Kiến An; Sở tư pháp;
- Chi cục THADS quận Kiến An;
- Bị cáo; Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: VT, HS vụ án.
Nguyễn Thị Lan Hương
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hóa Nguyễn Công Biên
Nguyễn Thị Lan Hương
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hóa
Vũ Văn Lẫy
Nguyễn Thị Lan Hương
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND quận Kiến An; - Công an quận Kiến An; - Thi hành án quận Kiến An; Sở tư pháp; - Chi cục THADS quận Kiến An; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương |