- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Thị Thu S - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” và tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền dưới mức khởi điểm
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HS-ST Ngày: 02-12-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Cư
Bà Dương Thị Mai Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tú Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 18/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Nhiễm S; sinh ngày 23/8/1991 tại huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm K, thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T và con bà Phan Thị A; có chồng Võ Văn H và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 12/01/2022 thì được bảo lãnh; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đức P, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm: 1994, nơi cư trú: Khóm K, thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 40 phút ngày 03/01/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo phối hợp với lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ tuần tra phòng, chống buôn bán, vận chuyển pháo nổ trên địa bàn thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Khi tổ công tác đến khu vực đường nhựa thuộc địa phận khóm Ka Tăng, thị trấn B, huyện H phát hiện Nguyễn Thị Nhiễm S đang điều khiển xe máy điện hai bánh màu đỏ, đen, trắng, nhãn hiệu R3 XMEN PROGENUINE biển kiểm soát 74MĐ8-007.47 chở phía sau Nguyễn Thị Thu N đang lưu thông theo hướng ra quốc lộ 9, tại vị trí hõm xe có 01 túi ni long màu đen, trên yên xe phía sau, giữa S và Năm để 01 túi ni long màu đen, nghi vấn bên trong 02 túi ni long có đựng pháo nên tổ công tác yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra, phát hiện:
- Trong túi ni long màu đen đặt trước hõm xe có 03 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài võ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0837, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
- Trong túi ni long màu đen đặt trên yên xe có 02 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài võ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0837, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ.
Tạm giữ và niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN1.
Kiểm tra bên trong cốp xe máy điện phát hiện 01 hộp giấy, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0845, bên ngoài mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ (tạm giữ và niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN2).
S khai nhận: Toàn bộ 06 hộp giấy nói trên là pháo, S đang vận chuyển đến khu vực trung tâm thương mại Lao Bảo để bán cho một người tên là Mai thì bị lực lượng chức năng phát hiện, Nguyễn Thị Thu N không biết và không liên quan đến hành vi vận chuyển pháo của S.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S, tạm giữ toàn bộ những đồ vật, tài liệu liên quan.
Theo lời khai nhận của S tại hiện trường: Tại nhà ở của mình hiện còn cất giấu một số hộp pháo và S tự nguyện giao nộp cho tổ công tác, cụ thể như sau:
- 22 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0845, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ (tạm giữ và niêm phong trong một thùng giấy các ton, ký hiệu PHN3), về nguồn gốc số pháo, S khai nhận 12 hộp của mình, còn 10 hộp là của người đàn ông tên Híp gửi.
- 26 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0837, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, nghi là pháo hoa nổ (tạm giữ và niêm phong trong một thùng giấy các ton, ký hiệu PHN4), S khai nhận số pháo này là của người đàn ông tên Híp gửi ở nhà mình.
Lực lượng chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Nhiễm S tại khóm K, thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị Nhiễm S khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/01/2022, do có nhu cầu mua pháo về để sử dụng nên S điện thoại cho một người đàn ông tên Híp hỏi mua pháo (S không rõ tên thật, địa chỉ, lai lịch), sau khi thỏa thuận, S đồng ý mua của Híp 01 két pháo (gồm 18 hộp, loại 49 quả/hộp) với giá 8.000.000đồng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày có hai nam thanh niên điều khiển xe mô tô vận chuyển đến nhà S 02 bao gai và 02 thùng giấy các ton, bên trong có đựng nhiều hộp pháo; S nói với 02 thanh niên “Làm chi mà chở nhiều ri, tau dặn 01 két thôi” thì hai thanh niên trả lời “Không biết, Híp bảo chở về”; S điện thoại cho Híp nói “Tau dặn 01 két mà răng chở 03 két”, Híp trả lời “Chị cho em gửi đó với, mai em tới chở” thì S đồng ý cho Híp gửi. Sau khi nhận pháo, S đưa toàn bộ số pháo vào phòng ngủ của mình cất giấu.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 03/01/2022, có một người phụ nữ gọi điện thoại vào số điện thoại 0342126717 của S, giới thiệu mình tên là Mai và hỏi mua pháo thì S đồng ý bán với giá 480.000đồng/hộp và hẹn địa điểm giao pháo ở khu vực Trung tâm thương mại Lao Bảo. S lấy ra 06 hộp pháo trong số 18 hộp pháo đã mua của Híp, cất 01 hộp vào trong cốp xe máy điện, 03 hộp bỏ vào 01 túi ni long màu đen, buộc miệng lại và đặt trước hõm xe máy điện, 02 hộp pháo để vào trong một túi ni long màu đen, buộc miệng lại đặt trên yên xe phía sau và chở em gái là Nguyễn Thị Thu N đi cùng. S điều khiển xe máy điện vận chuyển số pháo trên đến địa điểm đã hẹn, trên đường đi thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.
Kiểm tra 02 điện thoại di động đã tạm giữ của S, kết quả:
Đối với điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng; điện thoại không có thẻ sim, không có dữ liệu số điện thoại gói đến, gọi đi, tin nhắn.
Đối với điện thoại di động loại bàn phím, vỏ màu đỏ, nhãn hiệu NOKIA có gắn thẻ sim số điện thoại 0342126717; cơ quan điều tra đã ra lệnh thu giữ điện tín đối với thuê bao 0342126717 và tiến hành các hoạt động điều tra nhưng không xác minh được người đã gọi điện thoại hỏi mua pháo của S vào sáng ngày 03/01/2022.
Đối với lời khai của Nguyễn Thị Nhiễm S về việc ngày 03/01/2022 vận chuyển 06 hộp pháo nhằm mục đích bán cho người khác, tuy nhiên, ngoài lời khai của S không có chứng cứ nào khác nên không có có sở kết luận.
Kết luận giám định số 100/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
- Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu PHN1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 8,6kg.
- Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu PHN2 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 1,8kg.
- Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu PHN3 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 37,8kg.
- Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu PHN4 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 44,2kg.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ:
- 05 hộp pháo, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài võ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0837, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (được niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN1).
- 01 hộp pháo, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài võ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0845, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (được niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN2).
- 22 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài võ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0845, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (được niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN3).
- 26 hộp giấy, kích thước mỗi hộp 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc, có ký hiệu CHONG KOL C0837, bên trong mỗi hộp giấy có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (được niêm phong trong 01 thùng giấy các ton, ký hiệu PHN4).
- 01 túi ni long màu đen, loại có 02 quai xách, kích thước 45cm x 50cm, đã qua sử dụng; 01 túi ni long màu đen, loại có 02 quai xách, kích thước 35cm x 24cm, đã qua sử dụng, niêm phong ký hiệu BGNL.
- 01 điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động, loại bàn phím, võ màu đỏ, nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng; niêm phong ký hiệu ĐT.
- 01 xe máy điện hai bánh màu đỏ, đen, trắng nhãn hiệu R3 XMEM PROGENUINE, biển kiểm soát 74MĐ8-007.47, số máy: 60V800WW025264, số khung: RNKYBEKUMHDR 16464, xe đã qua sử dụng.
Bản cáo trạng số: 59/CT-VKSHH ngày 15 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật hình sự và tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự và tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191; khoản 1 Điều 35; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S số tiền từ 200.000.000đồng đến 230.000.000đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S số tiền từ 50.000.000đồng đến 55.000.000đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội để buộc bị cáo phải chấp hành.
Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số lượng pháo nổ còn lại sau giám định gồm: 04 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M1; 21 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0845, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M3; 25 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M4 là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 túi ni long màu đen, loại có 02 quai xách, kích thước 45cm x 50cm, đã qua sử dụng; 01 túi ni long màu đen, loại có hai quai xách, kích thước 35cm x 24cm, đã qua sử dụng, được niêm phong trong một thùng giấy các tông đóng kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong, có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, ký hiệu: BGNL là vật không có giá trị.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím số, vỏ máy màu đỏ, nhãn hiệu NOKIA, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong 01 túi giấy màu vàng được đóng kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong có chữ ký, họ trên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, ký hiệu ĐT và 01 xe máy điện hai bánh màu đỏ, đen, trắng, nhãn hiệu R3 XMEN PRO GENUINE, mang biển kiểm soát 74MĐ8-007.47, số máy: 60V800W025264, số khung: RNKYBEKUMHDR16464, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của xe của bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S đã dùng vào việc phạm tội.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng, nhãn hiệu Iphone (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH buộc bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi dùng xe máy điện để vận chuyển 06 hộp pháo có khối lượng 10,4 kilôgam hộp pháo nổ từ nhà mình đến khu vực trung tâm thương mại Lao Bảo, huyện H để bán cho người tên Mai thì bị phát hiện, bắt giữ. Tại đó bị cáo đã tự nguyện khai ra ở nhà mình còn cất giấu 48 hộp pháo hoa nổ, trong đó của bị cáo 12 hộp và cho người tên Híp gửi 36 hộp, có khối lượng 82 kilôgam. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 08 giờ 40 phút ngày 03/01/2022 bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S điều khiển xe máy điện màu đỏ, đen, trắng, nhãn hiệu R3 XMEN PRO GENUINE, mang biển kiểm soát 74MĐ8-007.47 chở 06 hộp pháo có khối lượng 10,4 kilôgam pháo hoa nổ (được niêm phong ký hiệu PHN1 và PNH2) từ nhà ở của bị cáo đến khu vực trung tâm thương mại Lao Bảo để bán, khi bị cáo S điều khiển xe đến khu vực khóm Ka Tăng, thị trấn B, huyện H thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo phối hợp với lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ. Khi bị bắt giữ tại hiện trường, bị cáo S khai tại nhà ở của bị cáo ở khóm K, thị trấn B, huyện H còn cất giấu một số hộp pháo và S đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác, cụ thể 22 hộp (được niêm phong ký hiệu PHN3 và 26 hộp ký hiệu PHN4) có khối lượng 82 kilôgam pháo hoa nổ (trong đó của bị cáo S là 12 hộp bị cáo cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bị cáo cho người tên Híp gửi 36 hộp). Hành vi điều khiển xe máy điện màu đỏ, đen, trắng, mang biển kiểm soát 74MĐ8-007.47 vận chuyển 10,4 kilôgam pháo hoa nổ để bán của bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định tội “Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Đối với hành vi tàng trữ 48 hộp pháo hoa nổ có khối lượng 82 kilôgam tại nhà ở của bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” với tình tiết định khung“Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam” tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; mẹ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với tội “Tàng trữ hàng cấm” và tội “Vận chuyển hàng cấm”. Ngoài ra, khi bị bắt, bị cáo S đã tự khai nhận tại nhà ở của mình ở khóm K, thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị còn cất giấu 48 hộp pháo hoa nổ có khối lượng 82 kilôgam, số pháo này bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan chức năng khi chưa bị ai phát hiện nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Đối với tội “Tàng trữ hàng cấm”, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ. Đối với tội “Vận chuyển hàng cấm”, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền với mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S đã phạm hai tội nên áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp và buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Hiện bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Vì vậy, cần tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
. Các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ tên Mai hỏi mua pháo của S, người đàn ông tên Híp và hai người thanh niên chở pháo đến nhà cho S vào ngày 02/01/2022, do thông tin mà S cung cấp về các đối tượng còn ít nên chưa xác minh được lai lịch; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với chị Nguyễn Thị Thu N, ngày 03/01/2022 đi cùng Nguyễn Thị Nhiễm S nhưng không biết việc S vận chuyển pháo nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.
. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
Sau giám định hoàn lại gồm 04 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M1; 21 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0845, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M3; 25 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M4 là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 túi ni long màu đen, loại có 02 quai xách, kích thước 45cm x 50cm, đã qua sử dụng; 01 túi ni long màu đen, loại có hai quai xách, kích thước 35cm x 24cm, đã qua sử dụng, được niêm phong trong một thùng giấy các tông đóng kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong, có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, ký hiệu: BGNL là vật không có giá trị nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy (Vật chứng là pháo hoa nổ hiện tại đang do Công an huyện H quản lý).
Đối với 01 điện thoại di động bàn phím số, vỏ máy màu đỏ, nhãn hiệu NOKIA, máy đã qua sử dụng , không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong 01 túi giấy màu vàng được đống kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong có chữ ký, họ trên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, ký hiệu ĐT của bị cáo S đã dùng vào việc phạm tội và 01 xe máy điện hai bánh màu đỏ, đen, trắng, nhãn hiệu R3 XMEN PRO GENUINE, mang biển kiểm soát 74MĐ8-007.47, số máy: 60V800W025264, số khung: RNKYBEKUMHDR16464, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng của xe mà bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S đã dùng để vận chuyển pháo. Theo phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 06/10/2022 của Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị thì chiếc xe máy điện nói trên có biển số 74MĐ-007.47 ghi tên chủ xe Nguyễn Đức P, nơi cư trú thôn Bích La Trung, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình điều tra anh Nguyễn Đức P khai nhận đã đăng ký sau đó bán xe cho cửa hàng mua bán xe máy Lạc Kết ở khóm Tây Chín, thị trấn B, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S thừa nhận mua chiếc xe nói ở cửa hàng mua bán xe máy Lạc Kết kèm theo giấy tờ xe, nhưng quá trình sử dụng đã làm mất giấy tờ xe (Bị cáo khai số tiền mua chiếc xe máy điện là tiền riêng của bị cáo). Ngày 03/01/2022 bị cáo S đã sử dụng xe máy điện để vận chuyển 10,4 kilôgam pháo hoa nổ nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng, nhãn hiệu Iphone (máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) của bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 191; khoản 1 Điều 35; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” và tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S số tiền 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng) về tội “Tàng trữ hàng cấm” và số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Nhiểm S phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là: 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
- Tịch thu, tiêu hủy số lượng pháo hoa nổ hoàn lại sau giám định gồm 04 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M1; 21 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0845, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M3; 25 hộp pháo hoa nổ, có ký hiệu C0837, bên trong mỗi vỏ hộp gồm 49 ống hình trụ tròn liên kết với nhau cho vào thùng giấy các tông sau đó dùng băng keo dán kín các mép thùng, sử dụng giấy trắng có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, ký hiệu M4; 01 túi ni long màu đen, loại có 02 quai xách, kích thước 45cm x 50cm, đã qua sử dụng; 01 túi ni long màu đen, loại có hai quai xách, kích thước 35cm x 24cm, đã qua sử dụng, được niêm phong trong một thùng giấy các tông đóng kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong, có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, ký hiệu: BGNL (Vật chứng là pháo hoa nổ hiện đang do Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị quản lý).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím số, vỏ máy màu đỏ, nhãn hiệu NOKIA, máy đã qua sử dụng , không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong trong 01 túi giấy màu vàng được đống kín, trên các mép mở có dán giấy niêm phong có chữ ký, họ trên của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, ký hiệu ĐT và 01 xe máy điện hai bánh màu đỏ, đen, trắng, nhãn hiệu R3 XMEN PRO GENUINE, mang biển kiểm soát 74MĐ8-007.47, số máy: 60V800W025264, số khung: RNKYBEKUMHDR16464, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng xe của bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
Vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Trị.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Nhiễm S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Trị; -VKSND tỉnh Quảng Trị; -VKSND huyện H; -Công an huyện H; -Chi cục THADS huyện H; -Cơ quan THAHS Công an huyện H; -UBND thị trấn B, huyện H; -Bị cáo; Hồ sơ THA hình sự; -Tổ HCTP; Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Huy |