- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Phước trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐL Bản án số: 58/2022/HS-ST Ngày 15/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM – TỈNH ĐL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hoàng Duy Thanh – Cán bộ hưu trí
2/ Ông Y Tha Mlô – Cán hưu trí
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh ĐL.
- Đại diện VKS huyện CM, tỉnh ĐL tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Chức vụ Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Văn Ph; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04 tháng 11 năm 1992, tại tỉnh ĐL.
Nơi ĐKNKTT và Chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn HL, xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Nh, sinh năm: 1966 và con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1966. Hiện ông bà đang sinh sống và làm nông tại thôn HL, xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không;
Tiền án: 02 (Ngày 15/8/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 225/2019/HSST. Ngày 29/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm đồng, xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt với bản án của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (09 tháng) mà Ph chưa chấp hành, tuyên phạt Ph 24 tháng tù, theo bản án số 18/2020/HSST).
Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn HL, xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL – có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Y Ư N
(Có mặt)
Địa chỉ: Buôn Blg, xã CM, huyện CM, tỉnh ĐL
* Người liên quan: Ông Lê Văn Nh
(Có mặt)
Địa chỉ: Thôn HL, xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL.
* Người làm chứng: Chị H NW
(Có mặt)
Địa chỉ: Buôn Bl, xã CM, huyện CM, tỉnh ĐL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 ngày 24/9/2022, Lê Văn Ph, sinh năm: 1992, trú tại thôn HL, xã QH, huyện CM (02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản) điều khiển xe mô tô biển số: 47H1 - 639.78 đi một mình từ nhà ở thôn HL, xã QH, huyện CM đến buôn Bl, xã CM, huyện CM xem đất, giới thiệu cho người khác mua, bán để nhận tiền hoa hồng. Khi đi đến buôn Bl, xã CM, huyện CM thì Ph thấy nhà ông Y Ư N, sinh năm: 1962, để cổng và cửa phòng khách mở nên Ph đã chạy xe mô tô vào sân nhà ông Y Ư rồi dựng xe ở sân và đi bộ vào trong nhà ông Y Ư để tìm người hỏi thăm đường đi. Khi vào nhà, Ph nghe có tiếng người ở phía sau vườn nhưng trong nhà không có ai nên Ph đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình ông Y Ư để bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, Ph đi vào phòng khách nhưng không thấy có tài sản nào có giá trị nên Ph tiếp tục đi vào phía trong, đến phòng ngủ thứ nhất đã khóa cửa thì Ph đi vào phòng ngủ thứ hai là phòng ngủ của ông Y Ư. Tại đây, Ph thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, loại màn hình cảm ứng của ông Y Ư đang xạc pin ở dưới nền nhà thì Ph lấy trộm chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần Jeans bên trái rồi Ph tiếp tục lục tìm đồ để trộm cắp thì bị con gái của ông Y Ư là chị H NW phát hiện. Lúc này, chị H NW hỏi Ph là “Đi đâu đây?” thì Ph trả lời “Đi hỏi đường” đồng thời Ph bỏ đi ra sân, nổ máy xe môtô và quay đầu xe để bỏ đi nhưng chị H NW nghi ngờ Ph đã trộm cắp tài sản của gia đình mình nên đã chạy đến xô ngã xe môtô và gọi mẹ là bà H Ă K đến giữ Ph lại đồng thời gọi điện thoại cho bố là ông Y Ư để trình báo Công an. Lúc chị H NW gọi điện thoại cho ông Y Ư thì điện thoại ông Y Ư ở trong túi quần Ph đổ chuông báo cuộc gọi đến. Lo sợ hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện, Ph đã lấy điện thoại VIVO vừa trộm cắp được của ông Y Ư đang giấu trong túi quần Jeans của mình ra rồi ném ra vườn bên cạnh nhà ông Y Ư. Chị H NW tiếp tục gọi điện thoại cho ông Y Ư thì chiếc điện thoại mà Ph vừa ném qua bãi đất trống tiếp tục đổ chuông thì chị H NW xác định Ph vừa lấy trộm điện thoại của ông Y Ư nên đã hô hoán người dân xung quanh cùng giữ Ph lại và trình báo cơ quan Công an để xử lý theo quy định.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 57/KL - HĐĐGTS, ngày 26/9/2022, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện CM, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu Đen, màn hình cảm ứng; số IMEI 1: 869716032324551; số IMEI 2: 869716032324544, có trị giá 800.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã thu giữ vật chứng gồm: 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK 8C, màu xanh, số IMEI 1: 358554564841520, số IMEI 2: 358554564841538; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 1: 869716032324551, số IMEI 2: 869716032324544; 01 xe mô tô biển số 47H1-639.78, nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đỏ, nâu, số máy: JF86E0442614, số khung: 5831LY537092; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050674, mang tên Lê Văn Nha
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 25/10/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM truy tố bị cáo Lê Văn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn Ph, đồng thời đưa ra các tình tiết giảm nhẹ về trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b,h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Văn Ph từ 12 đến 15 tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 585; 586 Bộ luật dân sự năm 2015.
Cần ghi nhận việc bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho ông Y Ư N số tiền 6.000.000đ. Ông Y Ư N không yêu cầu gì về phần dân sự.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 1: 869716032324551, số IMEI 2: 869716032324544 cho ông Y Ư N là chủ sở hữu hợp pháp.
Đề nghị trả lại xe mô tô biển số: 47H1 – 639.78 và giấy đăng ký xe mô tô, xe máy cho ông Lê Văn Nh là chủ sở hữu hợp pháp.
Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK 8C cho Lê Văn Ph là chủ sở hữu hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 24/9/2022 tại buôn Bl, xã CM, huyện CM, Lê Văn Ph (02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa xóa án tích) đã lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, loại màn hình cảm ứng của ông Y Ư N, trị giá tài sản là 800.000 đồng thì bị phát hiện, xử lý.
Hành vi của bị cáo Lê Văn Ph đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng do ý thức coi thường pháp luật và động cơ tư lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân bị cáo đã từng 04 bị kết án về tội trộm cắp, 02 lần đã xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, ông nội bị cáo là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,h,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xẩy ra bị cáo đã tác động gia đình đến nhà bị hại xin lỗi và đã tự nguyện bồi thường số tiền 6.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Xét thấy việc bồi thường là tự nguyện, không vi phạm đạo đức xã hội, không trái với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Ngoài người bị hại ông Y Ư N không yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Công an huyện CM đã trả trả lại: 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 1: 869716032324551, số IMEI 2: 869716032324544 cho ông Y Ư N là chủ sở hữu hợp pháp, xét thấy việc trả lại tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Đối với chiếc xe mô tô biển số: 47H1-639.78 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050674, mang tên Lê Văn Nh là tài sản của anh Lê Văn Nh. Vào ngày 24/9/2022, Lê Văn Ph mượn chiếc xe mô tô biển số: 47H1- 639.78 của ông Nh để đi công việc nên ông Nha cho Ph mượn chiếc xe nêu trên. Sau đó, Lê Văn Ph điều khiển xe mô tô đến buôn Bl, xã CM thì nảy sinh việc trộm cắp tài sản thì ông Nh không biết, không liên quan, không được hưởng lợi gì nên cần trả lại xe mô tô biển số: 47H1 – 639.78 và giấy đăng ký xe mô tô, xe máy cho ông Lê Văn Nh là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK 8C, màu xanh, số IMEI 1: 358554564841520, số IMEI 2: 358554564841538 là tài sản của Lê Văn Ph. Lê Văn Ph không dùng điện thoại trên để làm công cụ phạm tội nên cần trả lại cho Lê Văn Ph là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Ph phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b,h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Ph 01 (một) năm tù
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584; 585; 586 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Y Ư N số tiền 6.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M'gar đã trả lại: 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 1: 869716032324551, số IMEI 2: 869716032324544 cho ông Y Ư N là chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại 01 xe mô tô biển số: 47H1-639.78 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050674 cho ông Lê Văn Nh là chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu TECNO SPARK 8C, màu xanh, số IMEI 1: 358554564841520, số IMEI 2: 358554564841538 cho Lê Văn Ph là chủ sở hữu hợp pháp.
(Vật chứng trên có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh ĐL).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, người bị hại, người liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh ĐL;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Vụ giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
- Sở tư pháp tỉnh ĐL;
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu hồ vụ án.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh ĐL;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Vụ giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
- Sở tư pháp tỉnh ĐL;
- VKSND huyện CM;
- Chi cục THADS huyện CM;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu hồ vụ án.
Y Lợi Niê
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐL; - Vụ giám đốc kiểm tra I - TANDTC; - Sở tư pháp tỉnh ĐL; - VKSND huyện CM; - Chi cục THADS huyện CM; - UBND xã Quảng tiến, huyện CM; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Lợi Niê |