vanban.org

Bản án 58/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT; Sửa Bản án sơ thẩm số 34/2022/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo ĐVQ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DVQ -TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT; Sửa Bản án sơ thẩm số 34/2022/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HS-PT
Ngày: 18-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Tân

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Văn Quí do bị kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2022/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: ĐVQ, sinh năm: 1991; nơi cư trú: ấp LH 2, xã LM, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ĐHT và bà NTĐ; có vợ là HTT (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, bị cáo HBMT, bị hại LHB; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án NTĐ, NTMT không có kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân và biết được nhà bị hại LHB có trồng mai vàng nên bị cáo ĐVQ nảy sinh ý định trộm mai của bị hại B để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 21 giờ ngày 22/5/2021, bị cáo Q đi bộ từ nhà đến vườn bị hại B, cách nhà bị cáo khoảng 200 mét. Bị cáo chui vòng dưới lưới sắt B40 vào vườn mai vàng của bị hại; bị cáo dùng hai tay nhổ một cây mai vàng và mang cất giấu bên hông nhà.

Khoảng 40 phút sau bị cáo Q điện thoại cho bị cáo HBMT và nói với bị cáo T “con mới lấy trộm cây mai vàng, chú xuống coi ra dùm con”; bị cáo T đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo T thuê một người chạy xe Honda khách tên Ch chở bị cáo T đến nhà bị cáo Q xem mai. Khi đến nhà bị cáo Q, bị cáo T mang theo cây kiềm răng, cán bọc nhựa màu trắng. Bị cáo T hỏi bị cáo Q lấy trộm mai của ai; bị cáo Q trả lời “lấy trộm mai của bị hại B”, bị cáo T nói “mày dẫn tao đi lại đó, mày không lấy trộm, tao lấy trộm” và nói “tao với mày đi lấy trộm mai, bỏ thằng Ch ở đây”; bị cáo Q đồng ý. Sau đó, bị cáo Q, T cùng đi bộ đến vườn mai của bị hại B; khi đến nơi bị cáo T dùng kềm cắt lưới sắt B40 và kéo qua để bị cáo Q chui vào. Bị cáo Q hỏi bị cáo T “lấy cây mai nào”, bị cáo T trả lời “cây nào đẹp thì lấy”. Bị cáo Q nhổ hai cây mai vàng và đưa ra ngoài cho bị cáo T, hai bị cáo mang hai cây mai về cất bên hông nhà bị cáo Q.

Sau đó, hai bị cáo bàn bạc và thống nhất tiếp tục trở lại trộm mai của bị hại B; lần này bị cáo Q vào trong nhổ một cây mai vàng mang về cất giấu bên hông nhà bị cáo Q. Bị cáo T điện thoại cho đương sự Ch chở về nhà trọ Vạn Xuân tại số 67/10, Phó Cơ Đ, Phường 3, thành phố Vl, tỉnh Vĩnh Long.

Đến khoảng 02 giờ ngày 23/5/2021, bị cáo T sang phòng trọ của anh NTĐ; địa chỉ ấp PN A, xã PH, huyện LH; bị cáo T nói với anh Đ về việc bị cáo T và bị cáo Q mới lấy trộm 04 cây mai vàng. Anh Đ nói “còn mai vàng nữa không?”; bị cáo T trả lời “còn, nếu lấy trộm bán được sẽ cho Đ 2.000.000 đồng”, anh Đ đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 59T-792.32 chở bị cáo T đến nhà bị cáo Q. Sau đó, bị cáo Q, T và anh Đ cùng đi bộ đến vườn mai của bị hại. Bị cáo Q vào trong vườn nhổ hai cây mai đưa ra cho bị cáo T và anh Đ bên ngoài. Sau đó, cả ba cất giấu bên hông nhà của bị cáo Q. Bị cáo Q vào nhà ngủ, bị cáo T và anh Đ về nhà trọ. Đến ngày 24/5/2021 Công an xã Long Mỹ mời cả ba về làm việc; sau khi tiến hành làm việc cả ba thừa nhận hành vi trộm cắp cây mai vàng của bị hại B.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long, kết luận: 06 cây mai vàng đều có giá 850.000đ/cây, tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 5.100.000 đồng.

Đối với NTĐ: anh Đ có hành vi cùng với bị cáo Q, Thụy trộm hai cây mai vàng của bị hại B, nhưng giá trị hai cây mai vàng là 1.700.000 đồng, nên chưa đủ căn cứ xác định anh Đ phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Đ với số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với người tên Ch (không rõ họ tên, địa chỉ) chạy xe Honda khách do bị cáo T thuê chở xuống nhà bị cáo Q. Hiện nay, cơ quan cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ tiến hành xử lý sau.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 34/2022/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện MT đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo ĐVQ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo ĐVQ 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng.

Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 19/8/2022.

Giao bị cáo ĐVQ cho Ủy ban nhân dân xã LM, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với cơ quan đoàn thể và gia đình bị cáo giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo ĐVQ cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo HBMT 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quyết định về trách nhiệm dân sự; án phí, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long có quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS.HMT, với nội dung: kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HSST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MT về phần hình phạt. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại vụ án theo hướng không cho bị cáo ĐVQ hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm vị đại diện viện kiểm sát trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng nghị chuyển hình phạt tù đối với bị cáo theo hướng không cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị số 01/QĐ-VKS.HMT ngày 31/8/2022, sửa bản án sơ thẩm số 34/2022/HSST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện MT. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo ĐVQ 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện MT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện MT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: từ khoảng 21 giờ ngày 22/5/2021 đến 02 giờ ngày 23/5/2021 bị cáo Q cùng với bị cáo T đã liên tục lén lút lấy tài sản của bị hại B 06 cây mai vàng trị giá 5.100.000 đồng, do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát yêu cầu chuyển hình phạt tù đối với bị cáo ĐVQ là có căn cứ.

Trong vụ án này, bị cáo Q là người đầu tiên đi trộm mai vàng của bị hại, sau đó bị cáo Q chỉ địa điểm và cùng với bị cáo T trong đêm liên tục thực hiện hành vi lấy trộm mai của bị hại B, cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Mức án cấp sơ thẩm quyết định đối với bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là chưa đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo, cần chuyển hình phạt không cho bị cáo hưởng án treo.

Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện MT; Sửa Bản án sơ thẩm số 34/2022/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo ĐVQ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ