- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R về giảm nhẹ hình phạt tù; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R xin được hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2022/HS-PT Ngày: 12 - 07 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hoàng Thành.
2. Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Trần Nhật Nguyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 05 năm 2022, đối với bị cáo Thạch R, do có kháng cáo của bị cáo Thạch R đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Thạch R (tên gọi khác L) sinh ngày 01/01/1962; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm V, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch Ế, sinh năm 1943 (chết) và bà Đào Thị X, sinh năm 1942 (chết); Anh, chị em ruột có 08 người, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1987; Vợ là Thạch Thị Na P, sinh năm 1973; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/03/2022 và cấp phúc thẩm tiếp tục áp dụng từ ngày 29/06/2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị hại: Ông Lâm T, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Khóm V, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Thạch Thị Rách Xa N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng của Viện kiểm sát, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án, quyết định bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 17/9/2021 Thạch R đang ngủ cùng vợ là Thạch Thị Na P và cháu ngoại ở chòi nuôi tôm thuộc khóm S, phường V, thị xã V thì nghe tiếng của Lâm T kêu Rết ra ngoài đánh nhau. Khi Rết đi ra nhìn thấy Lâm T cầm 01 (một) khúc cây dài khoảng 96cm, được nối liền với đoạn kim loại (sắt), đầu đoạn kim loại gắn liền 03 đoạn kim loại có mũi nhọn và mỗi đoạn dài 18cm. Lâm T liền đánh Thạch R, Rết giơ hai tay lên đỡ và bỏ chạy xuống ghe đang đậu dưới sông chụp khúc cây dài 142cm (cây dầm bơi xuồng) chạy lên cầm bằng hai tay đánh trúng vào đầu, tay phải, tay trái và mặt trái của T, khi T kêu cứu thì được Danh P và Ong T1 đến can ngăn. Sau đó, P và T1 gọi điện báo cho gia đình Lâm T đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế thị xã Vĩnh Châu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa Sóc Trăng điều trị đến ngày 24/9/2021 thì xuất viện.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 303/TgT-PY ngày 03/11/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận thương tích của bị hại Lâm T: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05%. Thương tích do vật tày gây nên (BL 128).
* Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-VC ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Thạch R về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tại Bản án sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Thạch R (Lếch) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên xử:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch R 04 (Bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 13/04/2022, bị cáo Thạch R có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
* Ngày 29/04/2022, bị hại có Tờ tường trình (gửi qua bưu chính) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Thạch R giữ nguyên nội dung kháng cáo và có lời nói sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo đưa ra những căn cứ, lập luận và cho rằng bị cáo Thạch R có 03 tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhân thân bị cáo Thạch R tốt và không có tình tiết tăng nặng, nguyên nhân bị cáo phạm tội do lỗi bị hại. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo Thạch R được hưởng án treo.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, cũng đưa ra những căn cứ, lập luận và cho rằng bị cáo Thạch R kháng cáo nguyên nhân bị cáo phạm tội do lỗi bị hại là không đúng, bị cáo không hối hận ăn năn, gây thương tích vùng đầu là vùng trọng yếu của cơ thể bị hại, cho hưởng án treo là không nghiêm. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo và không giảm nhẹ hình phạt, không cho bị cáo được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính hợp lệ và tính có căn cứ của kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R và áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến và đề nghị của Luật sư, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chủ thể, nội dung, hình thức đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của bị cáo Thạch R (sau gọi bị cáo) là đúng theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định nên được chấp nhận, vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo và có liên quan đến việc kháng cáo.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tại phiên tòa sơ thẩm là hoàn toàn tự nguyện, đúng với hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
[3] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên, cụ thể: Vào khoảng 19 giờ ngày 17/9/2021, bị cáo đang ngủ cùng vợ và cháu ngoại thì nghe tiếng của bị hại Lâm T (sau đây gọi bị hại) kêu bị cáo ra ngoài đánh nhau. Khi bị cáo đi ra thì bị hại dùng cây chĩa 03 đầu nhọn (cán cây dài khoảng 96cm, mũi dài 18cm) đánh bị cáo, bị cáo giơ hai tay lên đỡ và bỏ chạy xuống ghe đang đậu dưới sông chụp khúc cây dài 142cm (cây dầm bơi xuồng) chạy lên cầm bằng hai tay đánh trúng vào đầu, tay phải, tay trái và mặt trái của bị hại, khi bị hại kêu cứu thì được Danh P và Ong T1 đến can ngăn. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tôi nêu trên và thừa nhận các thương tích (Sẹo vùng đỉnh trái, vết sây sát biến đổi rối loạn sắt tố da cánh tay phải, 02 vết sây sát biến đổi rối loạn sắt tố da cánh tay trái, sây sát da trán trái và sung bầm mắt trái) trên cơ thể của bị hại theo kết quả giám định là do bị cáo có hành vi dùng cây dầm bơi xuồng (dài 142cm) đánh gây ra.
[6] Lời khai nhận của bị cáo Thạch R phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với thực nghiệm điều tra, khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án.
[7] Bị cáo Thạch R là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sức khỏe của con người là vốn quí, không gì so sánh được là bất khả xâm phạm, là khách thể được luật hình bảo vệ, người nào xâm hại là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị. Mặc dù, bị cáo nhận thức được điều này nhưng với bản chất xem thường pháp luật, không tôn trọng sức khỏe của người khác nên đã có hành vi dùng cây dầm bơi xuồng là loại “hung khí nguy hiểm”, đánh nhiều cái vào cơ thể bị hại gây thương tích và gây tổn hại sức khỏe cho bị hại, với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 05%. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết định khung theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Thạch R thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có đủ yêu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” nên có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Thạch R phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[8] Trong xét xử sơ thẩm, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo Thạch R có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã nộp số tiền 700.000đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo là người dân tộc Khmer và không biết chữ nên việc nhận thức pháp luật còn hạn chế, được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Thạch R 04 (Bốn) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và đúng với quy định của pháp luật.
[9] Theo kháng cáo của bị cáo Thạch R xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, với lý do: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; thành khẩn khai báo và ăn năn; người dân tộc Khmer, học vấn thấp không hiểu biết và am hiểu pháp luật, những tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, nên không có cơ sở để xem xét áp dụng.
[10] Đối với kháng cáo, bị cáo là người già yếu (hơn 60 tuổi). Xét thấy, theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”, bị cáo hơn 60 tuổi nên bị cáo là người cao tuổi và không thuộc tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cũng không có căn cứ để xem xét áp dụng. Đồng thời, bị cáo cho rằng nguyên nhân bị cáo phạm tội là do hành vi trái pháp luật của bị hại khiêu khích, kiếm chuyện với bị cáo nên bị hại cũng có lỗi là chưa đủ cơ sở.
[11] Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo 04 tháng tù là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, nên việc bị cáo kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt là không căn cứ, nên giữ nguyên mức hình phạt tù của Tòa án cấp sơ thẩm.
[12] Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm vào ngày 14/04/2022 bị cáo Rết đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Vĩnh Châu số tiền 16.628.623đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000734) để khắc phục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng đã xin lỗi bị hại và yêu cầu bị hại tha thứ cho bị cáo, đây chính là sự ăn năn hối hận hận của bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới cần áp dụng đối với bị cáo.
[13] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự qui định tại khoản 1 (03 tình tiết) và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo ăn năn hối lỗi và có khả năng tự cải tạo, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, bị cáo ở ngoài xã hội cũng không gây nguy hại cho xã hội và cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có đủ các điều kiện theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (sửa đổi, bổ sung năm 2022). Do đó, kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo là có căn cứ, nên được chấp nhận.
[14] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, nội dung kháng cáo của bị cáo Thạch R xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở, nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo là có căn cứ.
[15] Kiểm sát viên và người bảo vệ cho bị hại đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa có cơ sở, nên không được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.
[16] Người bào chữa cho bị cáo Thạch R, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.
[17] Do kháng cáo của bị cáo Thạch R được chấp nhận và bản án sơ thẩm bị sửa (do có tình tiết mới) nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[18] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH
1/- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R về giảm nhẹ hình phạt tù; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thạch R xin được hưởng án treo.
2/- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST, ngày 30 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, như sau:
“Tuyên bố bị cáo Thạch R (Lếch) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên xử:
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch R 04 (Bốn) tháng tù, nhưng cho bị cáo Thạch R được hưởng án treo.
- Thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 12/07/2022). Giao bị cáo Thạch R cho UBND phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và gia đình bị cáo Thạch R có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Thạch R thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.
- Trong thời gian thử thách bị cáo Thạch R cố ý vi phạm nghĩa vụ (quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án Hình sự) 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Thạch R phải chấp hành hình phạt tù.
3/- Các phần khác của quyết định Bản án hình sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
4/- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Thạch R không phải chịu.
5/- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng - TAND H. Vĩnh Châu (2 bản); - VKSND H.Vĩnh Châu; - Công an H.Vĩnh Châu; - Chi cục THADS H.Vĩnh Châu; - PHSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng; - CQTHAHS–Công an tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo; - PKTNVV-THA TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sơ Tư pháp; - UBND phường Vĩnh Phước; - Lưu hs, THS; HỘI ĐỒNG XẺ XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán Thái Rết Tăng Thị Thúy Nga | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Hùng Nuôi Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Hùng Nuôi |