vanban.org

Bản án 58/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NG THỊ TR - NG VĂN Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 19-8-2022.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Ông Hoàng Tuyển.

2, Ông Lưu Văn Toan.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Phan Việt Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 19/8/2022 tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 208/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/5/2022 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01/8/2022, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm: 1982. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn 4, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Nơi cư trú: Thôn 4, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Tr là nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị Tr và anh Q về chung sống với nhau từ năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian. Đến đầu năm 2021 anh Q hay uống rượu về kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị Tr, nên mâu thuẫn xảy ra thường xuyên, hiện cuộc sống không thể kéo dài được nữa, nay chị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Tr được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị Tr và anh Q có 02 người con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/3/1999 hiện đã trưởng thành và Nguyễn Văn H, sinh ngày 23/4/2005. Nếu ly hôn chị Tr có nguyện vọng nuôi cháu H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tr không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ chung: Chị Tr không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Quá trình điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ anh Nguyễn Văn Q là bị đơn: Cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh Q và anh Q cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Nguyễn Thị Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Q, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh Q cư trú. Theo quy định tại khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

2.1, Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Văn Q về sống chung với nhau từ 2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/4/2006. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q uống rượu về kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị Tr, nên mâu thuẫn xảy ra thường xuyên làm mất tình cảm vợ chồng, hiện cuộc sống không thể kéo dài được nữa, nay chị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q.

Căn cứ vào lời khai của đương sự và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị Tr và anh Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Tr và anh Q ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị Tr yêu cầu ly hôn với anh Q là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2, Về con chung: Chị Tr và anh Q có 02 người con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/3/1999 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 23/4/2005.

Hiện con chung Nguyễn Văn H đã trưởng thành, đủ trên 18 tuổi, nên không đề cập đến vấn đề nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Còn lại cháu Nguyễn Văn H, chị Tr có nguyện vọng nuôi.

2.3, Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện chị Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập giải quyết.

2.4, Về tài sản và nợ chung: Chị Tr không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí LHST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình;

2.1. Giao con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 23/4/2005 cho chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra để giải quyết.

Anh Q có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Tr không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung, nên không đề cập xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị Nguyễn Thị Tr phải chịu 300.000 đồng tiền án phí LHST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS huyện Ea H’Leo theo biên lai số 60AA/2021/0000873 ngày 13/5/2022.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ