- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn NHTMCP S và bị đơn Trịnh Thị Tuyết T"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 58/2022/DSST Ngày 24 - 06 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Văn Nhứt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung và bà Lâm Thị Nguyệt Hồ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần S.
Địa chỉ: Số , N, Phường , Quận , Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P – Chuyên viên quản lý nợ (Giấy ủy quyền ngày 09/3/2022).
2. Bị đơn: Bà Trịnh Thị Tuyết T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số , Khóm , Phường , thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(ông Nguyễn Thanh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trịnh Thị Tuyết T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 19/4/2019, bà Trịnh Thị Tuyết T có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S hợp đồng tín dụng số LD1910900392 để vay số tiền 30.000.000đ; Mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất 06 tháng đầu tiên 21,6%/năm; Lãi suất hiện tại: 21,8%/năm; Thời hạn vay: 18 tháng; Thời điểm trả hết nợ: 19/10/2020; Không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân 19/4/2019 đến ngày 21/12/2021 bà Trịnh Thị Tuyết T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là: 30.055.905đ (trong đó: Nợ gốc 25.005.000đ; Nợ lãi 5.050.905đ). Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 20/8/2020 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay sang nợ quá hạn.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Tuyết T phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 24/6/2022 là 8.100.630đ (trong đó nợ gốc là 4.995.000đ, nợ lãi trong hạn là 2.100.253đ, nợ lãi quá hạn là 1.005.377đ) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
* Đối với bị đơn bà Trịnh Thị Tuyết T không cung cấp lời khai của mình cho Tòa án, Tòa án có đến nơi cư trú của bà T để lấy lời khai nhưng bà T vắng mặt nơi cư trú. Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cư trú của bà T xác định: Bà Trịnh Thị Tuyết T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 41/7/3, Khóm 5, Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, hiện nay bà T không còn cư trú, sinh sống tại địa chỉ trên, địa phương không biết hiện tại bà T ở đâu, làm gì vì khi đi bà T không có báo với chính quyền địa phương. Từ đó, Tòa án tiến hành niêm yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định pháp luật nhưng đến nay bà T vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bà Trịnh Thị Tuyết T, buộc bà T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ tính đến hết ngày 24/6/2022 là 8.100.630đ (trong đó nợ gốc là 4.995.000đ, nợ lãi trong hạn là 2.100.253đ, nợ lãi quá hạn là 1.005.377đ) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Về án phí: Buộc bà Trịnh Thị Tuyết T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Tuyết T trả số tiền nợ vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên, nên đây là quan hệ pháp luật Dân sự về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Phường 5, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, qua xác minh bà T không còn cư trú tại địa phương nhưng không thông báo về việc thay đổi nơi cư trú cho Ngân hàng biết nên được xem như cố tình dấu địa chỉ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn bà Trịnh Thị Tuyết T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bà T.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ hợp đồng tín dụng LD1910900392, ngày 19/4/2019, thể hiện Ngân hàng cho bà Trịnh Thị Tuyết T vay số tiền 30.000.000đ; Mục đích vay: mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất 06 tháng đầu tiên 21,6%/năm; Lãi suất hiện tại: 21,8%/năm; Thời hạn vay: 18 tháng; Thời điểm trả hết nợ: 19/10/2020; Không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay. Hợp đồng tín dụng trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định: Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân 19/4/2019 đến ngày 21/12/2021 bà Trịnh Thị Tuyết T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là: 30.055.905đ (trong đó: Nợ gốc 25.005.000đ; Nợ lãi 5.050.905đ). Sau đó, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T không thanh toán số tiền còn lại cho Ngân hàng.
Xét thấy, bà Trịnh Thị Tuyết T không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ vay tính đến hết ngày 24/6/2022 là 8.100.630đ (trong đó nợ gốc là 4.995.000đ, nợ lãi trong hạn là 2.100.253đ, nợ lãi quá hạn là 1.005.377đ) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bà Trịnh Thị Tuyết T để giải quyết vụ án nhưng bà T vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát: Trên cơ sở phân tích nêu trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án.
[4] Về án phí: Buộc bà Trịnh Thị Tuyết T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bà Trịnh Thị Tuyết T.
Buộc bà Trịnh Thị Tuyết T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến hết ngày 24/6/2022 là 8.100.630đ (trong đó nợ gốc là 4.995.000đ, nợ lãi trong hạn là 2.100.253đ, nợ lãi quá hạn là 1.005.377đ).
Kể từ ngày 25/6/2022, bà Trịnh Thị Tuyết T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng LD1910900392, ngày 19/4/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng LD1910900392, ngày 19/4/2019, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì lãi suất mà bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Về án phí:
- Buộc bà Trịnh Thị Tuyết T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 405.032đ.
- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0007249 ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố Bạc Liêu; - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Từ Văn Nhứt |