vanban.org

Bản án 58/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

Buộc ông Nguyễn Quốc V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 19/8/2022 là 48.280.200 đồng (Trong đó: Vốn vay là 18.957.636 đồng; lãi quá hạn là 29.322.564 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quốc V còn phải tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/DS-ST
Ngày 19-8-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Thắng.

Ông Đào Khel.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm Sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2022/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S;

Địa chỉ: Đường N, Phường X, Quận M, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Song T - Chức vụ: Trưởng Phòng Giao dịch Trần Đề - Ngân hàng Thương mại cổ phần S

- Chi nhánh Sóc Trăng; Địa chỉ: số 45 Quốc lộ Nam Sông Hậu, ấp Đầu Giồng, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng – là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo văn bản ủy quyền ngày 27/4/2022. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1986; (vắng mặt)

Địa chỉ: Đường N, Khu đô thị S, Khóm H, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 27 tháng 4 năm 2022 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), cũng như tại phiên toà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Song T trình bày:

Ngày 12/02/2018, ông Nguyễn Quốc V có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ: Motor card; Số thể: 356480 – 4365; Hạn mức: 20.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng 12/02/2018; Lãi suất áp dụng: 2,5%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Quốc V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 24.750.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 14.350.000 đồng nhưng từ ngày 30/4/2019 ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên từ ngày 01/5/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại thành nợ quá hạn và yêu cầu ông Nguyễn Quốc V thanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi quá hạn tính đến hết ngày 19/8/2022 là 48.280.200 đồng (Trong đó: tiền vốn vay là 18.957.636 đồng; lãi quá hạn là 29.322.564 đồng).

Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Toà án giải quyết: buộc ông Nguyễn Quốc V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/8/2022 là 48.280.200 đồng (Trong đó: tiền vốn vay là 18.957.636 đồng; lãi quá hạn là 29.322.564 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc V: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Nguyễn Quốc V không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn ông Nguyễn Quốc V không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Quốc V, cư trú tại Đường N, Khu đô thị S, Khóm H, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 48.280.200 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/02/2018. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu ông Nguyễn Quốc V trả số tiền gốc và lãi là 48.280.200 đồng, thấy rằng:

Theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/02/2018, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Phiếu yêu cầu kích hoạt thẻ ngày 27/02/2018) do nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S cung cấp có chữ ký và chữ viết tên của ông Nguyễn Quốc V. Tòa án đã thông báo cho ông Nguyễn Quốc V biết các tài liệu chứng cứ trên nhưng ông V không có ý kiến phản đối. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đồng thời, sau nhận thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 24.750.000 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 14.350.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định ông V đã vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/02/2018 với hạn mức sử dụng 20.000.000 đồng; lãi suất trong hạn 2,5%/tháng, quá hạn 3,75%/tháng.

. Về tính hợp pháp của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/02/2018, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Phiếu yêu cầu kích hoạt thẻ ngày 27/02/2018. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.

. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã kích hoạt thẻ (giao thẻ và Pin) với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng cho ông Nguyễn Quốc V. Sau khi nhận thẻ, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 24.750.000 đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 14.350.000 đồng nhưng từ ngày 30/4/2019 ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo) nên từ ngày 01 tháng 5 năm 2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại thành nợ quá hạn và yêu cầu ông Nguyễn Quốc V thanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi quá hạn tính đến hết ngày 19/8/2022 là 48.280.200 đồng (Trong đó: tiền vốn vay là 18.957.636 đồng; lãi quá hạn là 29.322.564 đồng).

Do ông V vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận tại các Điều 18, 19, 20, 22, 23, 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nên việc Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ và phù hợp với Khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 20 tháng 8 năm 2022 cho đến khi ông V trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.414.010 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

- Buộc ông Nguyễn Quốc V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 19/8/2022 là 48.280.200 đồng (Trong đó: Vốn vay là 18.957.636 đồng; lãi quá hạn là 29.322.564 đồng).

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quốc V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/02/2018, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Quốc V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.414.010 đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.097.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000467 ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ