vanban.org

Bản án 58/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng K về việc yêu cầu ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị Lệ H thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ.

Kể từ ngày ông K, bà B có đơn yêu cầu thi hành án. T hợp ông N, bà H không thanh toán khoản tiền nói trên thì ông N, bà H còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông N, bà H phải chịu 1.018.500 đồng (Một triệu không trăm mư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Lê Hoàng K-Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng K về việc yêu cầu ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị Lệ H thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2022/DS-ST
Ngày: 08-9-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Thanh Tuấn

2. Ông Phan Minh Sang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên, vắng mặt.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2022/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2022, về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2022/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng K, sinh năm 1990, có mặt

Địa chỉ: Ấp P, xã Trí Lực, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Là Người đại diện hộ kinh doanh cá thể: Kim Cương.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1990, vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Văn T (cha ông N), vắng mặt

3.2. Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1975 (vợ ông N), vắng mặt

3.3. Bà Trịnh Bé B, sinh năm 1987 (vợ ông K), có đơn xin vắng mặt

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã Trí Lực, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17/01/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Hoàng K trình bày:

Vào ngày 20/02/2021, ông có bán cho ông Trần Văn N là con của ông Trần Văn T một số vật liệu để cất nhà, gồm đồ điện, ống nước... với số tiền là 20.370.000 đồng. Khi mua không có lập hợp đồng mua bán nhưng có hóa đơn bán lẻ. Ông nhiều lần liên hệ ông N thanh toán nợ nhưng ông N vẫn không thanh toán. Ông có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T giải quyết, nhưng ông N vắng mặt, còn ông T hứa sẽ thuyết phục ông N thanh toán nợ. Tuy nhiên, đến nay ông N vẫn không thanh toán khoản nợ trên cho ông.

Nay ông yêu cầu ông N cùng vợ là bà Nguyễn Thị Lệ H thanh toán cho vợ chồng ông số tiền còn nợ là 20.370.000 đồng, ông không yêu cầu thanh toán lãi.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2022, ông Trần Văn T trình bày:

Ông là cha ruột của ông N. Ông N có vợ là bà Nguyễn Thị Lệ H. Căn nhà của ông N, bà H cất không có liên quan đến ông vì ông không sống chung với ông N, bà H. Theo ông biết thì ông N còn nợ tiền mua vật tư làm nhà của ông Lê Hoàng K là 20.370.000 đồng, ông có nhiều lần nhắc nhở ông N thanh toán nợ cho ông K nhưng ông N không thực hiện do hoàn cảnh khó khăn.

Số tiền nợ trên không có liên quan đến ông nên ông không thống nhất thanh toán cho ông K thay cho ông N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Ông Lê Hoàng K khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị Lệ H thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán. Ông N, bà H có địa chỉ tại ấp P, xã Trí Lực, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông N, ông T, bà H được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Bà B có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung khởi kiện: Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện ông Lê Hoàng K là người đại diện hộ kinh doanh Kim cương với ngành nghề kinh doanh là: Điện gia dụng, đồ nhôm – sắt – nhựa – inox, bulông – ốc vít, thiết bị và phụ tùng máy nổ. Mặc dù ông K không lập hợp đồng mua bán hàng hóa với ông N nhưng có hóa đơn bán lẻ và ông T là cha ông N xác định ông N khi xây dựng nhà có mua vật liệu của ông K. Do đó, đủ cơ sở xác định việc ông N có mua vật liệu xây dựng của ông K là có thật và hợp pháp.

Tại Biên bản hòa giải tranh chấp dân sự ngày 29/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã Trí Lực và tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2022 của ông Trần Văn T, đều thể hiện ông N còn nợ tiền mua vật liệu xây dựng của ông K với số tiền 20.370.000 đồng và đến nay chưa thanh toán. Mặc khác, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo cho ông N, bà H biết yêu cầu của ông K nhưng ông N, bà H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Hiện tại ông N, bà H chưa thanh toán cho ông K số tiền nợ nêu trên.

Ông N và bà H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trí Lực, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Số nợ trên phát sinh trong thời kì hôn nhân nên cần buộc ông N và bà H thanh toán số nợ trên cho vợ chồng ông K, bà B.

Từ những căn cứ trên, cần chấp nhận yêu cầu của ông K, buộc ông N, bà H thanh toán cho vợ chồng ông K, bà B khoản tiền mua vật liệu xây dựng nhà là 20.370.000 đồng.

Ông K không yêu cầu thanh toán lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về lãi suất chậm thi hành án: Ông N, bà H phải chịu theo quy định pháp luật.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên ông N, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn được nhận lại tiền nộp tạm ứng án phí.

Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Ông N, bà H, ông T, bà B vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 357, 430, 440, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng K về việc yêu cầu ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị Lệ H thanh toán tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ. Buộc ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị Lệ H có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền mua vật liệu xây dựng cho ông Lê Hoàng K, bà Trịnh Bé B với số tiền là 20.370.000 đồng (Hai mươi triệu ba trăm B mươi nghìn đồng).

2. Kể từ ngày ông K, bà B có đơn yêu cầu thi hành án. T hợp ông N, bà H không thanh toán khoản tiền nói trên thì ông N, bà H còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông N, bà H phải chịu 1.018.500 đồng (Một triệu không trăm mười tám nghìn năm trăm đồng). Nguyên đơn được nhận lại khoản tiền nộp tạm ứng án phí 509.000 đồng (Năm trăm lẻ chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014817 ngày 11/3/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.

4. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ