vanban.org

Bản án 58/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Dương Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-12-2020. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn M - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Dương Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN
Bản án số: 58/2021/HS-ST
Ngày: 31-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vân Thị Thu Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Huỳnh Sinh

2. Ông Trần Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố P mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2021/TLST-HS ngày 25-02-2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-HS ngày 18-3-2021 đối với bị cáo:

DƯƠNG VĂN M- sinh năm: 2001, tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã N, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn D, sinh năm: 1980 và bà: Phan Thị Tr, sinh năm: 1977; Tiền án: không; Tiền sự: không; Tạm giữ: ngày 05-12-2020; Tạm giam: ngày 08-12-2020; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Ông Kiều Thanh T, sinh năm: 1981. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: thôn PN, xã XH, huyện NH, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm: 1979. Vắng mặt.

Địa chỉ: thôn Đ, xã HH, huyện NH, tỉnh Ninh Thuận (Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Sông Cái- Bộ Công an).

2. Ông Nguyễn Thái L, sinh năm: 1997. Vắng mặt.

Địa chỉ: thôn Vạn Phước, xã Phước Thuận, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

3. Ông Lâm Hoàng N, sinh năm: 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: khu phố KC2, thị trấn KH, huyện NH, tỉnh Ninh Thuận.

4. Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm: 1984. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 6, phường PH, thành phố P, Ninh Thuận.

5. Ông Bùi Anh T1, sinh năm: 1971. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 9, phường PM, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

6. Ông Trần P, sinh năm: 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: thôn NĐ, xã X, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận.

7. Ông Lương Đình H, sinh năm: 1995. Vắng mặt.

Địa chỉ: thôn A3, xã XH, huyện NH, tỉnh Ninh Thuận.

8. Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm: 2001. Vắng mặt.

Địa chỉ: thôn Đ, xã HH, huyện NH, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 10/4/2019, Nguyễn Hoàng K (Bé) đang nhậu trước hiên nhà mình cùng Nguyễn Thái L, Lâm Hoàng N (Ty), Lương Đình Huy, DƯƠNG VĂN M và Nguyễn Đức T2 (Cuba) thì K nhận được điện thoại của anh Kiều Thanh T gọi đến để nói chuyện. Qua đó giữa hai bên xảy ra cãi nhau lớn tiếng, K mở loa ngoài điện thoại cho cả nhóm cùng nghe rồi tắt loa, mang điện thoại đi ra phía sau nhà tiếp tục cãi nhau với Thoảng. Một lúc sau, K đi vào nơi cả nhóm đang ăn nhậu và nói “Đi vào nói chuyện với thằng này, nó mà láo cá là đập chết mẹ nó luôn” rồi đi vào nhà mặc quần áo. Nghe K nói vậy, cả nhóm không nhậu nữa mà tất cả đều đứng dậy. K nói với Nguyễn Thái L “Mày chở cậu đi”, lúc này N cũng xin đi theo. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 85C1- 36154 của N chở K đi, N nói mình say nên bảo Huy lấy xe mô tô biển kiểm soát 85C1- 30369 của Huy chở đi trước đổ xăng, M và T2 cùng đi 01 xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) theo sau. L chở K vào cơ sở sản xuất nhôm kính của anh T tại phường Phước Mỹ, thành phố P nhưng không tìm thấy anh T nên K bảo L đi về. Trên đường về đến khu vực ngã 5 PH thì cả hai gặp Huy, N, T2 và M. Nghĩ rằng anh T thường hay ăn nhậu tại quán ăn Cá Nướng thuộc khu phố 6, phường PH, thành phố P, nên K nói L chở đến để tìm anh T, cả nhóm cũng đi theo. Khi L và K đến quán thì cả nhóm cũng vừa đến sau, K đi tới bàn anh T đang ngồi nhậu, hỏi lý do vì sao T đòi chặt chân, chặt tay mình thì N và L đi theo sau. Khi cả ba đi vào, anh T lấy trong túi ra 01 cây chích điện hướng về người K, K né ra được rồi với tay ra sau lấy được 01 cây tre, dài khoảng 1,2m bên đường, đánh nhiều cái vào người anh T, N cũng lấy 01 cây tre dài khoảng 50cm gần đó đánh nhiều cái vào người anh T. L lén chạy vào khu vực bếp của quán nhậu lấy 01 con dao, cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt dài khoảng 15cm, M lấy từ trong cốp xe ra 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm, rồi cả hai lao vào chém nhiều nhát vào người anh T. H và T2 đứng ngoài không tham gia và kêu mọi người dừng lại. Thấy anh T bị thương tích nặng, K kêu cả nhóm lên xe đi về. Anh T được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi gây án xong, K bảo cả nhóm đi lánh mặt, tránh sự truy lùng của Cơ quan Công an, đồng thời viết nội dung khai báo với Cơ quan điều tra ra giấy rồi bắt học thuộc, để cả nhóm đối phó với Cơ quan điều tra, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Biết không thể trốn tránh nên sau đó L, K đã đến Cơ quan điều tra trình diện, sau đó N bị Cơ quan điều tra bắt.

Đối với Dương Văn M, sau khi gây án xong, M đã bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo Quyết định truy nã vào ngày 05/12/2020. Tại Cơ quan điều tra, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 60/TgT ngày 23/5/2019 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 26% (Hai sáu phần trăm).

Cáo trạng số 41/CT-VKSPRTC ngày 25/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên việc truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: khoảng 19 giờ ngày 10/4/2019, tại quán nhậu Cá Nướng thuộc khu phố 6, phường PH, thành phố P, Dương Văn M cùng với Nguyễn Hoàng K (Bé), Nguyễn Thái L và Lâm Hoàng N (Ty), dùng cây tre, dao đánh, chém anh Kiều Thanh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26%. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện bồi thường 10.000.000 đồng cho bị hại, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; các tình tiết này được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra xác định xe mô tô (không rõ biển số) mà bị cáo dùng làm phương tiện để đi gây thương tích cho anh T, bị cáo đã bán cho ai không nhớ. 01 con dao tự chế bằng kim loại, dài khoảng 50 cm, khi bỏ trốn, bị cáo đã vứt bỏ, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Kiều Thanh T đã nhận số tiền bồi thường 10.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Dương Văn M bồi thường gì thêm.

Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng K (Bé), Lâm Hoàng N (Ty), Nguyễn Thái L, đã được Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm xét xử tại bản án số 71/HSST ngày 05-8-2020.

Đối với hành vi của Lương Đình H và Nguyễn Đức T2: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa không đủ căn cứ để xử lý Huy và T2.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Dương Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-12-2020.

Về án phí:

Căn cứ vào: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ