vanban.org

Bản án 58/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 04/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Lê D 09 (chín) tháng tù, thời gian tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02-5-2021. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô không biển số, số khung, số máy bị đục sửa không đọc được. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê D "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2021/HS-ST
Ngày: 04-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cao.

Ông Lê Văn Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2021/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2021/HSST-QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê D, tên gọi khác: không, sinh năm 1990 tại Long An. Nơi cư trú: đường H, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê D1, sinh năm 1964 và bà La Thị Sơn L, sinh năm 1967; bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Thu Ng, có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 05/8/2020 bị Công an thị trấn B ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 200/QĐ-XPHC xử phạt Lê D số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 04/8/2020 bị Công an xã L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPHC xử phạt Lê D số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 04/8/2020 Lê D bị Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Ngày 29/11/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”, trong thời gian thử thách Lê D tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 25/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xử phạt 09 tháng tù, tổng hợp hình phạt là 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2021 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Công ty cổ phần G.

Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc Th, sinh năm 1982

ĐKTT: Ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Long An (theo giấy ủy quyền ngày 08/12/2020) (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Võ Tấn S, sinh năm 1998

ĐKTT: khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Lê D1, sinh năm1964

ĐKTT: đường H, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

3. Trần Thị Ph, sinh năm 1968

ĐKTT: Ấp C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 08/12/2020, Võ Tấn S điều khiển xe mô tô biển số 62H2-7480 đến tiệm game bắn cá thuộc khu phố A, thị trấn B, huyện B tìm Lê D, tại đây S rủ D đến Công ty Cổ phần G (gọi tắt là Công ty) địa chỉ ấp A, xã N, huyện B để lấy trộm các vỉ sắt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì D đồng ý. D kêu S đem xe mô tô biển số 62H2-7480 về nhà của D gửi, D lấy xe mô tô loại xe hai bánh, nhãn hiệu Waysea màu đỏ đen của D (xe không biển số), D tháo biển số xe 53R7-0369 ra (biển số xe 53R7-0369 là của ông Lê D1 cha ruột D) gắn vào xe mô tô của D để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô được gắn biển số 53R7-0369 chở D đến Công ty, đậu xe gần vị trí đặt các vỉ sắt lót miệng hố ga được đặt trước Công ty, cả 2 xuống xe và dùng tay cạy lấy được 05 vỉ sắt, trong đó: 01 vỉ sắt nặng 23,5 kg, 03 vỉ sắt nặng 20,5 kg/vỉ và 01 vỉ sắt nặng 10,5 kg. Sau khi lấy 05 vỉ sắt, D và S khiêng 05 vỉ sắt để lên xe mô tô, S ngồi phía sau giữ các vỉ sắt, còn D điều khiển xe mô tô đến tiệm thu mua phế liệu của Trần Thị Ph ở Quốc lộ A, thị trấn B, huyện B để bán 05 vỉ sắt vừa trộm được số tiền 570.000đ, D và S chia nhau mỗi người được 285.000đ. Sau đó, S tiếp tục rủ D đến trước Công ty để tiếp tục trộm cắp các vỉ sắt còn lại, D đồng ý. Khi đến Công ty thì S còn ngồi trên xe cảnh giới, còn D đang dùng tay cạy các vỉ sắt thì bị Lực lượng Công an tuần tra phát hiện bắt giữ D còn S thì điều khiển xe tẩu thoát, khi chạy được khoảng 100m thì bỏ xe lại chạy bộ tẩu thoát.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức, định giá: 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 23,5 kg; 03 vỉ sắt lót miệng hố ga, có tổng trọng lượng 61,5 kg (20,5 kg/vỉ); 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 10,5 kg, tổng giá trị tang vật là 764.000đ.

Tại cáo trạng số 66/CT-VKSBL ngày 22-6-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Lê D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Lê D hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Lê D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Lê D từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 02-5-2021.

Do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với chị Trần Thị Ph khi mua 05 vỉ sắt do Lê D và Võ Tấn S bán, nhưng chị Ph không biết các tài sản trên do D và S trộm cắp mà có, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức không xử lý đối với chị Ph là phù hợp.

Đối với Võ Tấn S cùng Lê D thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, do tài sản chiếm đoạt có giá trị 764.000đ, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nhưng hành vi trên là vi phạm pháp luật cần được xử lý, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã chuyển xử lý hành chính đối với S là đúng theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, người diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần G là ông Phạm Quốc Th đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét. Chị Trần Thị Ph không yêu cầu bị cáo D và S hoàn trả lại số tiền 570.000đ chị đã bỏ ra để mua 05 vỉ sắt nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng:

- 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 23,5 kg; 03 vỉ sắt lót miệng hố ga, có tổng trọng lượng 61,5 kg (20,5 kg/vỉ); 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 10,5 kg thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần G, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu theo Biên bản về trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/02/2021 là phù hợp.

- 01 biển số 53R7-0369 thuộc sở hữu của ông Lê D1, hiện tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho ông D1 là phù hợp.

- 01 xe mô tô không biển số, số khung, số máy bị đục sửa không đọc được là phương tiện Lê D sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Đề nghị buộc bị cáo Lê D và Võ Tấn S mỗi người phải nộp lại số tiền 285.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo là không oan sai bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản định giá tài sản, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định xuất phát từ việc không tiền tiêu xài nên khoảng 02 giờ ngày 08/12/2020, Võ Tấn S điều khiển xe mô tô được gắn biển số 53R7-0369 chở Lê D có 02 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” đến Công ty Cổ phần G tại địa chỉ ấp A, xã N, huyện B để lấy trộm 05 vỉ sắt với tổng trọng lượng là 95,5 ký, trị giá 764.000đ của Công ty. Sau đó D và S chở 05 vỉ sắt bán cho Trần Thị Ph được số tiền 570.000đ, chia nhau mỗi người 285.000đ tiêu xài cá nhân. Sau đó, S tiếp tục rủ D đến trước Công ty Cổ phần G để tiếp tục trộm cắp các vỉ sắt thì bị Lực lượng Công an tuần tra phát hiện. Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê D phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó Cáo trạng Viện kiểm sát huyện Bến Lức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với chị Trần Thị Ph khi mua 05 vỉ sắt do Lê D và Võ Tấn S bán, nhưng chị Ph không biết các tài sản trên do D và S trộm cắp mà có, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức không xử lý đối với chị Ph là phù hợp.

Đối với Võ Tấn S cùng Lê D thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, do tài sản chiếm đoạt có giá trị 764.000đ, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nhưng hành vi trên là vi phạm pháp luật cần được xử lý, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã chuyển xử lý hành chính đối với S là đúng theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, người diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần G là ông Phạm Quốc Th đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét. Chị Trần Thị Ph tự nguyện không yêu cầu bị cáo D và S hoàn trả lại số tiền 570.000đ chị đã bỏ ra để mua 05 vỉ sắt nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng:

- 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 23,5 kg; 03 vỉ sắt lót miệng hố ga, có tổng trọng lượng 61,5 kg (20,5 kg/vỉ); 01 vỉ sắt lót miệng hố ga, trọng lượng 10,5 kg thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần G, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu theo Biên bản về trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/02/2021 là phù hợp.

- 01 biển số 53R7-0369 thuộc sở hữu của ông Lê D1, hiện tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho ông D1 là phù hợp.

- 01 xe mô tô không biển số, số khung, số máy bị đục sửa không đọc được là phương tiện Lê D sử dụng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Buộc bị cáo Lê D và Võ Tấn S mỗi người phải nộp lại số tiền 285.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Lê D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Lê D 09 (chín) tháng tù, thời gian tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 02-5-2021.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê D trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 04-10-2021 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô không biển số, số khung, số máy bị đục sửa không đọc được.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Buộc bị cáo Lê D nộp lại 285.000đ và Võ Tấn S nộp lại 285.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ