- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Bích V
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 58/2021/DS-ST Ngày: 30 - 06- 2021 V/v tranh chấp Hợp đồng hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hoàng
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2021/TLST-DS, ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2021/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2021/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1973. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Phú Hiệp, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp Phú Hùng, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:
Bà V làm chủ hụi mùa dây hụi 10.000.000đ/ 04 tháng khui hụi một lần có 15 người tham gia, hụi khui ngày 20/2/2020, vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà
Nguyễn Thị D có tham gia chơi 01 phần hụi và đã hốt hụi vào ngày 28/6/2020al được 86.900.000đ sau khi hốt hụi xong chỉ đóng được mồt lần hụi chết là 10.000.000đ còn 12 lần chưa đóng với số tiền là 120.000.000đ. Nay đã qua nhiều lần góp hụi mà ông T, bà D chưa đóng tiền hụi góp hàng tháng cho bà do vậy bà yêu cầu ông T, bà D phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền phải góp hụi đã hốt là 120.000.000đ.
Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ đương sự theo quy định pháp luật nhưng ông T và bà D không đến tham gia phiên hòa giải, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến mà không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không ghi nhận ý kiến của ông T và bà D.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, căn cứ vào hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bích V làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị D có địa chỉ: Ấp Trung Phú 5, xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang phải trả cho bà 120.000.000đ . Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, ông T, bà D đã được Tòa án tống đạt Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật, nhưng ông T và bà D vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông T và bà D
Về nội dung: Bà V khởi kiện yêu cầu ông T và bà D phải trả cho bà V và ông T và bà D có thỏa thuận hợp đồng hụi, nội dung thỏa thuận đối đối với các chân hụi thì bà V làm chủ hụi có trách nhiệm thu các phần hụi của các hụi viên khác và giao các phần hụi đó cho hụi viên được hốt hụi cho tới khi kết thúc hụi. Kỳ khui hụi 04 tháng một lần, ai là người trả lãi cao nhất sẽ được hốt hụi. ông T và bà D có tham gia chơi hụi do bà V làm chủ.
Xét yêu cầu của bà V, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù đến thời điểm xét xử dây hụi này chưa kết thúc nhưng tại biên nhận ngày 28/6/2020al ông T, bà D có ký tên nhận tiền hụi 86.900.000đ. Như vậy hợp đồng dân sự giữa các đương sự được giao kết trên cơ sở tư nguyện, ông T, bà D có làm biên nhận tiền hụi nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên giao kết hợp đồng. Như vậy đã xác định giữa các đương sự có xác lập hợp đồng hụi với nhau và là hụi có lãi. Hợp đồng tuân thủ quy định Bộ luật dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi hốt hụi thì người đã hốt có trách nhiệm góp tiền hụi cho người chưa hốt, nhưng ông T bà D lại không thực hiện nên việc bà V yêu cầu khởi kiện buộc ông T và bà D phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền 120.000.000đ chưa góp là có cơ sở được chấp nhận.
Về án phí, căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bị buộc phải có nghĩa vụ trả tiền cho bà V nên ông T và bà D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468, 471 Bộ luật Dân sự 2015; và các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Bích V
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị D phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích V 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Về án phí: ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị D phải chịu 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Bích V được nhận lại 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008289 ngày 29/3/2021 của Chi cục T hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
Kể từ ngày bên được T hành án có đơn yêu cầu T hành án, nếu bên phải T hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa T hành án.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được T hành theo quy định tại Điều 2 Luật T hành án dân sự thì người được T hành án dân sự, người phải T hành án dân sự có quyền thoả thuận T hành án, quyền yêu cầu T hành án, tự nguyện T hành án hoặc bị cưỡng chế T hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu T hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T hành án dân.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ, V.phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hằng |