- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2021/DS-ST Ngày: 30-11-2021. “V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán thức ăn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Sang.
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Ông Trần Văn Thòn – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 729/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2021/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc T, sinh năm 1984. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2021 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T có ý kiến trình bày và yêu cầu như sau:
Nguyên trước đây từ ngày 04/5/2018 đến ngày 18/6/2019 ông T có bán thức ăn nuôi tôm cho ông Nguyễn Văn H nhiều lần, ông H cũng trả rồi mua lại nhiều lần. Đến ngày 18/6/2019 thì tổng kết lại là ông H còn nợ lại ông T số tiền 109.188.000 đồng cho đến nay. Ông T đã nhiều lần đến đòi thì ông H chỉ hứa suông mà không trả. Nên nay ông T khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán cho ông T số tiền gốc bằng 109.188.000 đồng và lãi suất tính đến ngày 18/4/2021 bằng 21.837.600 đồng với mức lãi suất 1%/tháng.
* Bị đơn Nguyễn Văn H không đồng ý lấy lời khai cũng không đồng ý ký tên nhận giấy nhưng ông có nhận các giấy mời của Tòa án.
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời kiểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: thẩm quyền thụ lý vụ án; quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết; tư cách pháp lý; thời hạn xét xử; thủ tục tiến hành hòa giải; thu thập chứng cứ; cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, Viện kiểm sát; thời hạn gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 68; Điều 97; Điều 177; Điều 196; Điều 203; Điều 205; Điều 208; Điều 209; Điều 210; Điều 211; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định tại Điều 239; Điều 243; Điều 247; Điều 249; Điều 250; Điều 251; Điều 252; Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Vị kiểm sát viên đề xuất:
+ Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357; Điều 430, Điều 434 và Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc T: Buộc ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền nợ mua bán thức ăn và thuốc nuôi tôm còn thiếu là 109.118.000 đồng và lãi suất 10%/năm từ ngày 18/6/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán. Về thẩm quyền giải quyết, căn cứ vào khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng. Về xác định tư cách đương sự, xác minh thu thập chứng cứ đều thực hiện theo các quy định tại các Điều 68 và Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T khởi kiện yêu cầu bị đơn là Nguyễn Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho ông T 109.188.000 đồng vốn gốc, ông T yêu cầu về lãi suất là 1%/tháng từ ngày 18/6/2019 đến khi thanh toán xong. Chứng minh cho yêu cầu của mình ông T có cung cấp cho Tòa án tờ hóa đơn có chữ ký của ông Nguyễn Văn H.
Bị đơn Nguyễn Văn H không đồng ý ghi biên bản lời khai nhưng có nói rằng ông còn thiếu tiền thức ăn của ông T khoảng 100.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy sự kiện mua bán giữa thức ăn và thuốc cho tôm giữa nguyên đơn và bị đơn, có hóa đơn ký nhận của bị đơn cho nên việc mua bán là sự kiện có thật không cần phải chứng minh. Bị đơn không đồng ý ghi lời khai và ký tên nhận các giấy mời của Tòa án là bị đơn trốn tránh việc gặp mặt đối chất với nguyên đơn cho nên Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có đủ căn cứ để chấp nhận, buộc ông bị đơn là ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T số tiền mua bán thức ăn và thuốc cho tôm còn nợ bằng 109.188.000.000 đồng.
Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất 1% tháng từ khi kết thúc việc mua bán ngày 18/6/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Hội đồng xét xử xét thấy việc mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận về lãi suất mà là trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 với mức lãi suất bằng 10%/năm. Do đó, Hội đồng xét xử tính lại lãi suất như sau:
Từ ngày 18/6/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/11/2021 là 29 tháng 12 ngày
109.188.000 đồng x 29 tháng 12 ngày x 10%/năm = 26.749.000 đồng
Từ những căn cứ trên. Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng bằng 135.937.000 đồng (Trong đó vốn gốc bằng 109.188.000 đồng, lãi suất tính đến ngày 30/11/2021 bằng 26.749.000 đồng).
Lời trình bày của vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 147 và Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 357; Điều 430; Điều 434 và Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T.
Tuyên xử: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn ông Huỳnh Quốc T tổng cộng bằng 135.937.000 đồng (Trong đó vốn gốc bằng 135.937.000 đồng (Trong đó vốn gốc bằng 109.188.000 đồng, lãi suất tính đến ngày 30/11/2021 bằng 26.749.000 đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (tất cả các khoản tiền) theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí sơ thẩm:
- Ông Huỳnh Quốc T không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho ông T tiền tạm ứng án phí đã nộp bằng 2.730.000 đồng theo biên lai thu số 0005483 ngày 10/5/2021, nhận lại tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu 6.796.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã nơi đương sự cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKS ND H. Châu Thành; - Cc. THA DS H. Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu HS (VP). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Nguyên |