vanban.org

Bản án 58/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Xử phạt bị cáo Thạch S 10 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/7/2019. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Tịch thu và tiêu hủy 01 áo ba lỗ màu xanh đỏ có chữ Adidas ở giữa ngực và chiếc quần lửng vải màu sọc ngang trắng xanh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Cướp giật tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HS-ST
Ngày: 21 - 5 -2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên

Bà Lê Thị Chí

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:73/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

- Thạch S, sinh năm: 1988, tại: Trà Vinh; Hộ khẩu thường trú: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chổ ở: Bãi đất trống cạnh, khu phố I, Phường R, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc:Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Sa O và bà Thạch Thị S; Có vợ Thạch Thị T, sinh năm 1992 và có 02 con lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạ m giữ,tạm giam ngày: 02/7/2019; (Có mặt).

Bị hại:

- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú: xóm H, thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Chổ ở: khu phố V, Phường R, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

Bào chữa cho bị cáo Thạch S:

Ông Nguyễn Hữu Thế T1 – Luật sư Công ty luật TNHH MTV N thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Ông Cao Ngọc S – Luật sư Công ty luật TNHH MTV N thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03h 55 phút ngày 02/07/2019, Thạch S đi ngang qua dãy phòng trọ tại địa chỉ Phường 6, quận Gò Vấp thấy có ánh sáng đèn ở phòng trong cùng, căn phòng trên có anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982 và vợ là bà Châu Thị L, sinh năm 1983 thuê ở. Do đã để ý từ trước nên Thạch S biết căn phòng trên vợ chồng anh T hay dậy sớm và để cửa mở sẵn nên S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. S vào phòng đi theo cầu thang gỗ bên phải theo hướng từ ngoài vào lên gác lục tìm tài sản nhưng không lấy được tài sản gì. Đến 04h 15 phút cùng ngày, S định đi xuống tầng trệt để bỏ đi thì thấy anh T bước vào trong phòng nằm ở tầng trệt bấm điện thoại nên S ngồi trốn sau thành lan can (có căng bạt) của tầng gác. Khoảng 15 phút, nghe có tiếng động trên gác nên anh T đi lên gác kiểm tra, khi anh T lên được hai bậc cầu thang thì bất ngờ S từ sau lan can của tầng gác nhảy xuống tầng trệt, thấy anh T tay cầm điện thoại nên Thạch S giơ tay phải giật điện thoại nhưng trượt tay nên làm điện thoại anh T rơi xuống chân cầu thang. Lúc này, anh T truy hô đuổi theo cùng người dân bắt giữ S giao cho Công an Phường 6 lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Thạch S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Zip 7, số imei: 353142051286642. Tại bản kết luận định giá tài sản số 197/KL ngày 30/07/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, UBND quận Gò Vấp kết luận: Ước tính điện thoại di động Zip 7, số imei: 353142051286642, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 02/07/2019 là 800.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại nêu trên cho anh Nguyễn Thanh T.

- 01 áo ba lỗ màu xanh đỏ có chữ Adidas ở giữa ngực và chiếc quần lửng vải màu sọc ngang trắng xanh;

Tại bản cáo trạng số 174/CTr-VKS, ngày 09/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Thạch S về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử Đề nghị: Áp dụng khỏan 1 Điều 171; điểm s,h khoản 1 Điều 51;Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Thạch S 10 tháng 19 ngày tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu và tiêu hủy 01 áo ba lỗ màu xanh đỏ có chữ Adidas ở giữa ngực và chiếc quần lửng vải màu sọc ngang trắng xanh.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Thạch S:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy có 01 số vấn đề cần làm rõ: về quyền bào chữa của bị cáo không thấy được thực hiện tại thời điểm lấy lời khai ban đầu của bị cáo, việc cho người viết bản tự khai lần thứ nhất không phải là do bị cáo viết mà cho người viết hộ trong khi bị cáo biết đọc và viết, việc bị cáo cho rằng bị cáo bị cán bộ ở phường dùng nhục hình khi lấy lời khai ban đầu buộc bị cáo là giật điện thoại Viện kiểm sát chưa làm rõ, việc bị cáo có đơn bảo lĩnh của vợ và cha ruột bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật tuy nhiên không được xem xét giải quyết và việc thực nghiệm hiện trường yêu cầu được thực nghiệm lại để đảm bảo tính khách quan của vụ án nhưng Cơ quan điều tra không cho thực nghiệm lại phải chăng có vấn đề gì gút mắc, hơn nữa đã có nhiều đon kiến nghị nhưng Viện kiểm sát không giải quyết đề nghị cho biết đến hôm nay giải quyết thế nào. Do đó, việc truy tố bị cáo chưa thật khách quan có biểu hiện vi phạm tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và đề nghị Viện kiểm sát giải đáp tại phiên tòa những thắc mắc nêu trên.

Viện Kiểm Sát:

Các vấn đề luật sư nêu đã được làm rõ trong hồ sơ vụ án Viện kiểm sát đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo, việc lời khai ban đầu viết giùm bị cáo do lúc bắt bị cáo khai là người dân tộc và viết chữ không rành, nhưng sau khi về Cơ quan điều tra biết được bị cáo đọc và viết được đã cho bị cáo tự viết bản tự khai đọc và ký vào biên bản, việc không cho bị cáo tại ngoại là do quá trình điều tra bị cáo thay đổi lời khai gây khó khăn cho việc điều tra nên xét thấy không cho bị cáo tại ngoại đồng thời việc thực nghiệm điều tra lại không thực nghiệm là do bị cáo đã thay đổi lời khai nên việc thực nghiệm sẽ không còn tính khách quan. Việc luật sư đã có đơn gởi kiến nghị Viện kiểm sát có nhận được nhưng đây không phải là đơn khiếu nại tố cáo nên Viện kiểm sát không giải quyết.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Thạch S:

Giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc xé xử bị cáo đúng quy định của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức án bằng với thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Thạch S đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở pháp lý cho rằng hành vi của Thạch S đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng đêm tối bị cáo đã lẽn vào nhà bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, không thực hiện việc trộm cắp được do bị hại phát hiện nên bị cáo chuyển hành vi qua cướp giật điện thoại của bị hại khi thực hiện việc trốn chạy, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đi bộ để trốn thoát, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 là có cơ sở.

Vì vậy, cần thiết có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi và tội lỗi của bị cáo thực hiện. Cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giúp bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo lại mình thành người tốt hơn có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án tiền sự, phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Hội đồng xét xử nhận thấy khi thực hiện hành vi phạm tội thì chưa thực hiện được hành vi cướp giật của mình, phạm tội chưa đạt nên cần thiết áp dụng Điều 15, Điều 57 khi lượng hình cho bị cáo, cần thiết cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự xét tính chất vụ án và hoàn cảnh khó khăn của bị cáo không có nghề nghiệp ổn định Hội đồng xét xử quyết định miễn phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại ông Nguyễn Thanh T vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động hiện không thắc mắc khiếu nại gì. Nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Zip 7 qua xác minh là của ông Nguyễn Thanh T cơ quan điều tra đã trả cho ông T. Hội đồng xét xử xét thấy việc cơ quan điều tra đã trả lại ông Nguyễn Thanh T là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với 01 áo ba lỗ màu xanh đỏ có chữ Adidas ở giữa ngực và chiếc quần lửng vải màu sọc ngang trắng xanh bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét lời bào chữa của luật sư cho Thạch S là có một phần cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Cướp giật tài sản”;

Căn cứ vào khỏan 1 Điều 171; điểm s,h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Thạch S 10 (mười) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/7/2019. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

Áp dụng khoản 5 điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do cho bị cáo Thạch S ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 áo ba lỗ màu xanh đỏ có chữ Adidas ở giữa ngực và chiếc quần lửng vải màu sọc ngang trắng xanh.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 152/PNK ngày 02/08/2019 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ