- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2020/HS-PT Ngày 16 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nghĩa
Các Thẩm phán
: Ông Nguyễn Văn Tuấn
: Ông Nguyễn Tuấn Long.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 17/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Liều Cẩm C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 317/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Bị cáo có kháng cáo: Liều Cẩm C, sinh năm 1986, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Liều Sây H và bà Trương Thị Thúy S; Có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2019; Thay biện pháp ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cư trú) ngày 15/8/2019: Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn Trường, Luật sư, Văn phòng luật sư Văn Trường, Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa; Địa chỉ: Số 67 Đường 16/7 phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Văn T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Phường V1, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Vắng mặt;
2. Ông Mai Đức Th, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn X, xã V2, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Vắng mặt;
3. Ông Nguyễn Thụy V, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Vắng mặt;
4. Bà Liều Cẩm P, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa: Vắng mặt;
Người làm chứng:
1. Ông Ngô Thái N: Vắng mặt;
2. Bà Huỳnh Thị L: Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06 tháng 8 năm 2019, nhận được tin báo của bà Liều Cẩm P về việc Liều Cẩm C có hành vi đập phá tài sản và dùng dao ném bà P tại nhà bà P, Công an phường Vạn Thắng, Nha Trang đã cử ông Ngô Thái N và ông Mai Đức Th xuống nắm tình hình và giải quyết vụ việc. Khi tới nơi, ông Th giải thích và yêu cầu C về trụ sở Công an phường làm việc nhưng C không chấp hành và khóa cửa lại, cầm dao đe dọa sẽ đâm nếu ông Th và ông N tới gần. Sau khi được khuyên nhủ, C mở cửa và yêu cầu ông Th, ông N đi ra. Sau đó, C đóng cửa lại. Ông N tiếp tục ở lại nắm tình hình, ông Th về lại trụ sở báo cáo lãnh đạo và xin tăng cường lực lượng.
Khoảng 06 giờ 45 phút cùng ngày, ông Th cùng ông Bùi Văn T (đều là công an phường Vạn Thắng) cùng ông Nguyễn Thụy V (bảo vệ tổ dân phố) đến hiện trường xử lý vụ việc theo sự phân công của lãnh đạo. Tổ công tác đã giải thích cho C biết mục đích xuống làm việc thì C mở cửa cho tổ công tác vào làm việc. Khi tổ công tác yêu cầu C về trụ sở phường làm việc thì C có lời lẽ chửi bới rồi bất ngờ xông vào nắm áo trước ngực ông T và xô đẩy vào vách tường làm bảng tên ông T đang đeo rơi xuống đất. Khi bị tổ công tác khống chế thì C liên tục vùng vẫy, chống đối, giật bảng tên ông Th đang đeo. Trong lúc bị đưa ra khỏi nhà, C dùng chân đạp mạnh vào bụng ông V làm ông V ngã xuống đất.
Tại Biên bản phạm tội quả tang, các Biên bản hỏi cung ngày 15/8/2019, ngày 27/9/21019, các bản tự khai, bị cáo khai nhận: Ngày 06/8/2019, khi có Công an, bảo vệ dân phố đến nhà bị cáo làm việc, bị cáo đã dùng tay mời mọi người ra khỏi nhà và làm cho một anh công an bị té ngã. Bị cáo bị những người còn lại khống chế nên có vùng vẫy làm bị cáo tự đau. Khi vừa bị đưa ra cửa nhà, bị cáo có hất, đạp vào bảo vệ dân phố làm người này té ngã.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo trình bày: Khi Công an phường đến làm việc do chị của bị cáo (Liều Cẩm P) báo về việc bị cáo và chị P cãi nhau, bị cáo lấy điện thoại gọi cho lực lượng cảnh sát 113 nhưng bị giật điên thoại nên bị cáo bị té, vô tình làm bảo vệ dân phố té theo, bị cáo không chống lại tổ công tác. Bị cáo còn khai nhận, các chữ ký, chữ viết tại các bản tự khai và lời cam đoan tại cuối các Biên bản hỏi cung đúng là do bị cáo viết và ký tên nhưng do bị ép buộc. Sau đó, bị cáo lại khai đó không phải là chữ ký, chữ viết của bị cáo và cho là bị cáo bị oan.
Quá trình điều tra, bà Liều Cẩm P và các ông Bùi Văn T, Ngô Thái N, Mai Đức Th, Nguyễn Thụy V đều trình bày: Sau khi bà Liều Cẩm P điện thoại báo Công an phường Vạn Thắng về việc Liều Cẩm C có hành vi đập phá tài sản trong nhà thì Công an phường Vạn Thắng cùng bảo vệ dân phố đến nhà gặp Cường làm việc và diễn biến sự việc như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.
Tại Bản án số 317/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự, xử phạt Liều Cẩm C 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 10 tháng 12 năm 2019, bị cáo Liều Cẩm C có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh với bị cáo và xin giảm hình phạt, cho hưởng án treo.
Tại đơn kháng cáo, bị cáo đề nghị xem xét lại tội danh đối với bị cáo, xin giảm hình phạt, hưởng án treo và trình bày: Quá trình bị 03 công an viên của phường và 01 bảo vệ dân phố đến nhà khống chế bị cáo về trụ sở Công an phường giải quyết thì bị cáo đã bị thương tích nhưng không được bản án sơ thẩm xem xét đánh giá đầy đủ, khách quan và kết án bị cáo mức hình phạt quá nặng.
Tại Biên bản xác minh ngày 22 tháng 5 năm 2020 của Phòng PC 10, Công an tỉnh Khánh Hòa, Công an phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang xác nhận: Liều Cẩm C đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang đã có Quyết định truy nã số 2020/CSĐT đối với Liều Cẩm C.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang có Văn bản số 2781/CSĐT thông báo chưa bắt được Liều Cẩm C theo Quyết định truy nã.
Phát biểu tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người bào chữa cho bị cáo cho là kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo trốn và việc truy nã không có kết quả nên phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều 354, điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Không có căn cứ nào xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là không hợp pháp. Lời khai của bị cáo về việc bị ép cung trong quá trình điều tra là không có căn cứ.
[3] Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bà Liều Cẩm P (là chị của bị cáo) và các ông Bùi Văn T, Ngô Thái N, Mai Đức Th, Nguyễn Thụy V, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập. Đủ cơ sở xác định: Ngày 06 tháng 8 năm 2019, tại nhà bà P, phường, thành phố N, khi Công an viên và Bảo vệ dân phố phường Vạn Thắng đến làm việc với Liều Cẩm C về việc C có hành vi đập phá tài sản theo tin báo của bà Liều Cẩm P thì C đã có hành vi dùng vũ lực (nắm áo, vùng vẫy, giật bảng tên đạp vào người) đối với những người đến làm nhiệm vụ để cản trở việc thi hành công vụ của những người này.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm việc thực hiện nhiệm vụ của những người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Bản án sơ thẩm đã kết tội bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo về các hành vi đã thực hiện nhưng tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo quanh co, không thấy được tội lỗi của mình, không thành khẩn khai báo. Ngoài tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” bản án sơ thẩm đã áp dụng, quá trình tranh tụng ở cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết nào mới. Quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận, bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Liều Cẩm C 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; Thời hạn tạm giữ từ ngày 06/8/2019 đến 15/8/2019 được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn dồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Vụ GĐKT; - Công an TP. Nha Trang; - VKSND TP. Nha Trang; - TAND TP. Nha Trang; - Chi cục THA DS TP. Nha Trang; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Bị cáo; - Lưu án văn; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Nghĩa |