- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Trung K trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2020/HS-ST Ngày 12/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn T Thành;
2. Bà Trịnh Thị Phương Châm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2020/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 546/2019/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Dương Trung K (có tên gọi khác là Bo), sinh ngày 28/8/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CMND: 024968637 do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/12/2014; Nơi cư trú: 45/22A2 Đinh Tiên Hoàng, phường Bến Nghé, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang Trung và bà Võ Thị Kim Dung; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Võ Minh T, sinh năm 1993; Địa chỉ: số 90, đường số 9, Lê Đức Thọ, Phường 16, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Tài – Luật sư Văn phòng Luật sư Sàigòn Việt thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 16/01/2020, Dương Trung K đang làm việc trong cửa hàng ACCENT, địa chỉ 97B Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, Quận 1 thì nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen của ông Võ Minh T (là nhân viên thu ngân của cửa hàng) để trên quầy thu ngân nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Kỳ đứng sát quầy thu ngân, lợi dụng lúc không ai để ý, Kỳ dùng tay lấy trộm điện thoại di động bỏ vào túi quần, rồi đi vào nhà kho cất vào ba lô cá nhân của Kỳ. Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, ông T phát hiện điện thoại bị mất nên cùng nhân viên kỹ thuật kiểm tra lại camera ghi hình thì phát hiện Kỳ đã lấy trộm chiếc điện thoại nên ông T đưa Kỳ đến Công an phường Bến Thành, Quận 1 trình báo sự việc, Kỳ thừa nhận việc lấy trộm điện thoại di động nên Công an phường Bến Thành T hành thu giữ vật chứng, chuyển giao Kỳ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 21/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB trị giá 8.667.000 đồng (Bút lục 27).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Dương Trung K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của Kỳ phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được (Bút lục 41 đến 47; 61 đến 79).
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen, dung lượng 64GB, đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ Minh T (Bút lục 20).
- 01 ba lô màu xanh dương, nâu, cam (Kỳ sử dụng sau khi thực hiện tội phạm).
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 tạm giữ (Bút lục 32).
Trách nhiệm dân sự: Ông Võ Minh T không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự và có đơn xin bãi nại cho bị can Kỳ (Bút luc 36).
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSQ1 ngày 01 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Dương Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Trung K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 16/01/2020, tại cửa hàng ACCENT, địa chỉ 97B Nguyễn Trãi, phường Bến Thành, Quận 1 Dương Trung K đã dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen của ông Võ Minh T, tài sản chiếm đoạt trị giá 8.667.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Dương Trung K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu xanh dương, nâu, cam. (Phiếu nhập kho vật chứng số 21-20/PNK ngày 19/02/2020)
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1; - Công an Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Các đương sự; - Lưu VP - hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Nguyễn Nhật Minh |