vanban.org

Bản án 58/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Đình T 23 (hai mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/8/2020. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre hình trụ dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu còn nguyên vẹn, một đầu bị dập, vỡ và khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm và 01 thanh tre kích th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và điểm a; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HS-ST
Ngày: 16 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đức Đông.

2/ Ông Vũ Đăng Đông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên – Thư ký viên TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

BÙI ĐÌNH T - Sinh năm 1988 tại xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Thôn MV, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.

Con ông Bùi Đình Th (đã chết) và bà Ngô Thị Đ (đã chết).

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 103/2009/HS-ST ngày 25/12/2009 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Môi giới mại dâm. T chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/8/2011.

+ Bản án số 68/2013/HS-ST ngày 15/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật. T chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 24/7/2017.

Tạm giữ: Không.

Tạm giam: Từ ngày 24/8/2020 đến nay tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1974.

Địa chỉ: Thôn LD, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Vũ Văn U – Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn PV, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 23/8/2020, Bùi Đình T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Atlantie, BKS 34L3-6267 của mình đi từ nhà ở thôn MV, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đi chơi lang thang quanh xã VH. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua trụ sở UBND xã VH, T thấy cổng UBND xã vẫn mở nên đi vào trong sân chơi. Do là ngày chủ nhật nên trụ sở UBND xã chỉ mở cổng, không làm việc nên T đi vào trong và đến phòng phát thanh của Đài truyền thanh xã VH gặp anh Vũ Văn U là nhân viên của Đài truyền thanh đang trực. T vào phòng chơi và xin anh U điếu thuốc lá sau đó đi ra ngoài sân. Sau đó, T đi ra ngoài và quan sát thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe BKS: 34A-398.83 của ông Nguyễn Văn Đ là Chủ tịch UBND xã VH để ở sân trước cửa khu nhà làm việc chính của UBND xã VH. T đi vào phòng chứa đồ của Đài truyền thanh xã nhặt 01 đoạn gậy tre dài 85cm, đường kính 2,7cm dựng sát tường. Sau đó, T dùng đoạn gậy tre vụt nhiều nhát vào xe của ông Đ tại các vị trí: Nắp bình xăng, cánh cửa phía sau bên trái, nóc xe, nắp capo và kính chắn gió phía trước làm nắp bình xăng bị vỡ nhựa kích thước (17 x 7) cm; kính chắn gió bị rạn, vỡ kích thước (11 x 11) cm; cửa bên trái bị 02 vết xước sơn, bẹp lõm kim loại kích thước (27 x 2) cm và (24 x 2) cm; nóc xe bị 02 vết xước sơn kích thước (15 x 1) cm và (4 x 1) cm; mặt nắp capo bên phải bị 03 vết xước sơn, lõm kim loại dài 50cm; mặt nắp capo bên trái có 3 vết xước sơn kích thước (13 x 10) cm.

Lúc này, ông Đ đang ở trong phòng làm việc, nghe thấy tiếng đập phá nên đi ra thấy T đang đập xe ô tô của mình, ông Đ quát và yêu cầu T dừng lại. Do ông Đ không khóa cửa điện xe ô tô nên T mở cửa xe ô tô, vào trong, ngồi tại vị trí ghế lái bấm còi. Sau đó T xuống xe ô tô cầm gậy tre điều khiển xe mô tô ra đường tỉnh lộ 395 hướng về xã Long Xuyên, huyện Bình Giang đi về nhà. Trên đường về, T vứt đoạn gậy tre ở vệ cỏ rìa đường tỉnh lộ 395. Ông Nguyễn Văn Đ trình báo sự việc với Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang thu giữ 01 thanh tre khô có kích thước (67 x 2) cm; 02 mảnh nhựa cứng màu trắng kích thước (12,5 x 4) cm và (7,5 x 5) cm – là mảnh nhựa vỡ từ nắp bình xăng xe ô tô của ông Đ. Tiến hành triệu tập, làm việc với Bùi Đình T và ra soát xung quanh khu vực đường 395 theo như mô tả của T, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang phát hiện và thu giữ tại vị trí cách cổng UBND xã VH 30m về hướng xã Long Xuyên, tại vị trí rìa đường có 01 gậy tre dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu bị dập, khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm. T xác định đó chính là gậy trẻ dùng để đập xe của ông Đ sau đó vứt lại trên đường về nhà.

Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 24/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Bình Giang kết luận: 01 tấm kính chắn gió trước xe ôtô bị rạn nứt, vỡ (11x11) cm, từ vết rạn nứt vỡ lan ra xung quanh các đường nứt kính khác nhau, giá trị thiệt hại là 24.800.000đ; Nắp bình xăng bên trái xe bị vỡ rời nhựa kích thước (17 x 07) cm, giá trị thiệt hại là 315.000đ; Mặt trên nắp capo bên phải có 03 vết xước lõm dài 50cm; mặt trên nắp capo bên trái có 03 vết xước sơn, kích thước (13 x 10) cm, giá trị thiệt hại là 1.300.000đ; Cánh cửa phụ phía sau bên trái có 02 vết lõm chóc sơn, kích thước (27 x 2) cm và (24 x 2) cm, giá trị thiệt hại là 1.300.000đ; Mặt trên kính nóc xe (cửa sổ trời) có 02 vết trầy xước kích thước (15 x 1) cm và (4 x 1) cm, giá trị thiệt hại là 1.500.000đ. Tổng giá trị thiệt hại xe ô tô của ông Đ là 29.215.000đ.

Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Đ không yêu cầu T phải bồi thường trách nhiệm dân sự.

Vật chứng của vụ án: 02 mảnh nhựa cứng màu trắng kích thước (12,5 x 4) cm và (7,5 x 5) cm là mảnh nhựa bay ra từ nắp bình xăng, ngày 24/8/2020, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang đã trả lại cho ông Đ. Đối với 01 đoạn gậy tre hình trụ dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu bị dập, khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm; 01 thanh tre khô kích thước (67 x 2) cm hiện Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang quản lý, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 05/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Đình T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đình T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ.

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân T, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình T từ 23 tháng đến 29 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/8/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre hình trụ dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu còn nguyên vẹn, một đầu bị dập, vỡ và khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm và 01 thanh tre kích thước (67 x 2) cm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; Điều tra viên; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo Bùi Đình T:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm kèm sơ đồ hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/8/2020, tại sân trụ sở UBND xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, Bùi Đình T có hành vi dùng gậy tre dài 85cm, đường kính 2,7cm đập phá xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe BKS: 34A-398.83 của ông Nguyễn Văn Đ làm nắp bình xăng bị vỡ nhựa kích thước (17 x 7) cm; kính chắn gió bị rạn, vỡ kích thước (11 x 11) cm; cửa bên trái bị 02 vết xước sơn, bẹp lõm kim loại kích thước (27 x 2) cm và (24 x 2) cm; nóc xe bị 02 vết xước sơn kích thước (15 x 1) cm và (4 x 1) cm; mặt nắp capo bên phải bị 03 vết xước sơn, lõm kim loại dài 50cm; mặt nắp capo bên trái có 3 vết xước sơn kích thước (13 x 10) cm. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 29.215.000đ. Bị cáo T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi sử dụng gậy tre làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bực tức cá nhân bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản, xâm phạm đến quyền tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Tổng giá trị tài sản bị cáo làm hư hỏng là 29.215.000đ nên đã đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo T có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Môi giới mại dâm và Bắt giữ người trái pháp luật (đã được xóa án T) do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại là ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gậy tre hình trụ dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu còn nguyên vẹn, một đầu bị dập, vỡ và khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm và 01 thanh tre kích thước (67 x 2) cm là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Các vấn đề khác: Đối với 02 mảnh nhựa cứng màu trắng kích thước (12,5 x 4) cm và (7,5 x 5) cm là mảnh nhựa bay ra từ nắp bình xăng, ngày 24/8/2020, cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang đã trả lại cho ông Đ là phù hợp nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 34L3-6267, quá trình điều tra xác định chiếc xe là của bị cáo nhưng không sử dụng vào việc phạm tội, ngày 20/10/2020 Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang đã trả lại cho bị cáo (do anh Bùi Đình Túc là anh trai đại diện nhận thay) là phù hợp nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Đình T 23 (hai mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/8/2020.

3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre hình trụ dài 85cm, đường kính 2,7cm, một đầu còn nguyên vẹn, một đầu bị dập, vỡ và khuyết một mảnh kích thước (67 x 2) cm và 01 thanh tre kích thước (67 x 2) cm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan CSĐT – Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang ngày 11/11/2020).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Đình T phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ