vanban.org

Bản án 58/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung là Phạm Như H, sinh ngày 27/5/2009 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H hiện sống cùng bà M, cho nên bà M được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Phạm Thanh T được quyền thăm nom cháu Phạm Như H, không ai được phép cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Phạm Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 9 năm 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

2. Bà Khƣu Liên Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thể Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 304/2020/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983

Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số H, K M, Phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, bị đơn ông Phạm Thanh T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà M và ông T tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc, đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay. Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T, ông T đồng ý ly hôn với bà M.

- Về con chung: Quá trình chung sống có một con chung tên Phạm Như H, sinh ngày 27/5/2009. Con chung đang sống với bà M. Khi ly hôn giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, không thuộc trường hợp phải thay đổi ai. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung là Phạm Như H, sinh ngày 27/5/2009 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Thanh T được quyền thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

Ông Phạm Thanh T không cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị M không yêu cầu.

- Về tài sản chung; Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Thanh T nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn ông T có địa chỉ cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét thấy bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà M, ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2008, là có xảy ra trên thực tế, được hai bên đương sự thừa nhận. Tuy nhiên, bà M và ông T không đăng ký kết hôn theo quy đi ̣nh của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nướ c có thẩm quyền thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, viê ̣c kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý.

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình thì nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà M và ông T là vợ chồng.

Về con chung: Bà M và ông T xác định quá trình chung sống, có một con chung tên Phạm Như H, sinh ngày 27/5/2009. Con đang sống cùng bà M. Bà M và ông T thỏa thuận thống nhất giao cháu H cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở giao con chung là cháu Huỳnh cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc cháu H, không ai được phép cản trở.

Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Thanh T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Như H, sinh ngày 27/5/2009 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu H hiện sống cùng bà M, cho nên bà M được tiếp tục nuôi dưỡng.

Ông Phạm Thanh T được quyền thăm nom cháu Phạm Như H, không ai được phép cản trở.

Ông Phạm Thanh T không cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị M không yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự thống nhất xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng. Bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0007051 ngày 01/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ