vanban.org

Bản án 58/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/08/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng.

Về án phí: Anh Lê Thế D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000641 ngày 17/4/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Lê Thế D đã nộp đủ án phí sơ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "án Duy Nga ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26/8/2020
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê - Cán bộ hưu.

Ông Trần Thanh Bình - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 26/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khaivụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2020 về việc “ ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Lê Thế D, sinh ngày 18/8/1984.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn BG, xã VT, huyện LN, tỉnh BG.

Xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Đại diện theo ủy quyền của anh Lê Thế D về việc giao nộp tài liệu, nhận văn bản tố tụng của Tòa án: Ông Lê Thế H, sinh năm: 1957. Địa chỉ: thôn BG, xã VT, huyện LN, tỉnh BG.

* Bị đơn: ChịTrần Thị Ng, sinh ngày 02/9/1983.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi xuất cảnh: thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG.

Hiện đang lao động ở nước ngoài, không rõ địa chỉ.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lê Thế D trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Trần Thị Ng trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/02/2005 tại UBND xã VT, huyện LN, tỉnh BG. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại gia đình bố mẹ đẻ của anh. Năm 2006 do điều kiện kinh tế gia đình nên anh đi lao động làm ăn tại Đồng Nai cho đến nay. Anh đi được khoảng một năm thì vợ chồng có sự mâu thuẫn do sống xa nhau, tình cảm vợ chồng không được gắn bó, chị Ng có biểu hiện quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Do không có sự thông cảm, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm ngày càng xa cách. Khi đi miền Nam làm ăn anh đã xin phép và đưa chị Ng về ở cùng với gia đình bố đẻ là ông Trần Văn Ng ở thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Sau này anh được biết chị Ng cũng đã đi lao động xuất khẩu tại nước ngoài Đài Loan nhưng anh không biết chính xác địa chỉ. Anh đã làm đơn xin ly hôn chị Ng từ năm 2011 nhưng không giải quyết được do không có địa chỉ. Anh biết chị Ng vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình nên có hỏi về thông tin địa chỉ thì gia đình giấu, không cung cấp còn chửi đuổi anh. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn chị Trần Thị Ng.

- Về con chung: trong thời gian chung sống anh và chị Ng không có con chung với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị Ng không có tài sản chung gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chúng tôi không cho ai vay nợ và cũng không vay nợ tài sản của ai. Chúng tôi không có công sức đóng góp cho gia đình hai bên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là chị Trần Thị Ng hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã xác minh và được biết chị Trần Thị Ng đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Trần Thị Ng.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ chị Ng là ông Trần Văn Ng – sinh năm 1960. Địa chỉ:thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Tại các biên bản làm việc với Tòa án,ông Trần Văn Ng có quan điểm trình bày như sau: Ông là bố đẻ của chị Trần Thị Ng, hiện nay chị Ng đang đi lao động tại nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Về quan hệ hôn nhân thì sau khi kết hôn chị Ng về làm dâu nhà anh D ở VT, LN. Vợ chồng anh chị chung sống được 2 năm thì anh D vào miền Nam làm ăn với anh trai và bảo đón chị Ng vào sau. Tuy nhiên sau khi vào miền Nam thì anh D lại bỏ bẵng, không quan tâm liên lạc với chị Ng và gia đình ông nữa. Một thời gian sau thì bố anh D làm thủ tục chuyển khẩu chị Ng về hộ khẩu gia đình ông. Hiện nay thì chị Ng đã tách hộ khẩu riêng nhưng vẫn ở nhờ trên đất của gia đình ông. Do điều kiện cuộc sống nên chị Ng đi lao động nước ngoài (Đài Loan) 5-6 năm nay. Về con chung thì trong quá trình chung sống do bị sảy thai hai lần nên chị Ng, anh D không có con chung. Tài sản chung của chị Ng, anh D không có gì. Về địa chỉ của chị Ng ở nước ngoài thì ông không biết nên không cung cấp cho Tòa án được và gia đình cũng từ chối thực hiện yêu cầu của Tòa án về việc thông báo, yêu cầu chị Ng gửi quan điểm, lời khai về cho Tòa án.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Lê Thế D xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Chị Trần Thị Ng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng. Về con chung: các đương sự không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tài sản chung, công nợ: các đương sự trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc anh Lê Thế D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê Thế D là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn đối với chị Trần Thị Ng. Bị đơn chị Trần Thị Ng là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn TS 2, xã YL, huyện YD, tỉnh Bắc Giang nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 3262/QLXNC-P5 ngày 12/3/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì chị Trần Thị Ng đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 20/4/2018, chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của chị Ng. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Lê Thế D vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Trần Thị Ng vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp chị Trần Thị Ng cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Trần Thị Ng theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Thế D, chị Trần Thị Ng.

. Về quan hệ hôn nhân:

. Anh Lê Thế D kết hôn với chị Trần Thị Ng trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/02/2005 tại UBND xã VT, huyện LN, tỉnh BG. Sau khi cưới xong thì chị Ng về làm dâu và ở với gia đình nhà chồng. Năm 2006 do điều kiện kinh tế gia đình nên anh D đi lao động làm ăn tại ĐN cho đến nay. Anh D đi được khoảng một năm thì vợ chồng có sự mâu thuẫn do sống xa nhau, tình cảm vợ chồng không được gắn bó, chị Ng có biểu hiện quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Do không có sự thông cảm, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm ngày càng xa cách. Khi đi miền Nam làm ăn anh D đã xin phép và đưa chị Ng về ở cùng với gia đình bố đẻ là ông Trần Văn Ng ở thôn TS2, xã YL, huyện YD, tỉnh BG. Sau này anh được biết chị Ng cũng đã đi lao động xuất khẩu tại nước ngoài Đài Loan nhưng anh không biết chính xác địa chỉ. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh D xin được ly hôn chị Trần Thị Ng.

. Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân của anh Lê Thế D và chị Trần Thị Ng là hợp pháp. Hiện nay anh Lê Thế D và chị Trần Thị Ng mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và đã nhiều năm nay không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn cắt đứt liên lạc, ly thân với nhau từ năm 2006. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả anh Lê Thế D và chị Trần Thị Ng đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Thế D và chịTrần Thị Ng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng.

. Về con chung: Các đương sự trình bày không có con chung, không yêu cầu nên không giải quyết.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Lê Thế D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế D được ly hôn chị Trần Thị Ng.

2. Về án phí: Anh Lê Thế D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000641 ngày 17/4/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Lê Thế D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

- Chị Trần Thị Ng hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Anh Lê Thế D cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ