- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bà Quang Thị Ngọc L, bà Bành Thị Mỹ H, ông Quang Xuân Q khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Đ"
- Tòa quyết gì? 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 166, 168 và 468 Bộ luật dân sự; Các Điều
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 105 Luật Đất đai; Điều 143 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 58/2020/DS-ST Ngày: 24-6-2020 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tấn Khoa;
2. Ông Tô Ngọc Liêm – công tác tại cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2016/TLST-DS ngày 02
tháng 6 năm 2016 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 161/2020/QĐXX-ST ngày 12 tháng 5 năm 2020, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Bà Quang Thị Ngọc L, sinh năm 1958; địa chỉ cư trú: 331D, Trần
Hưng Đạo, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên lạc: số
15, đường Đốc Binh Là, tổ 99, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
có mặt;
1.2 Bà Bành Thị Mỹ H, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Số 441, ấp A, xã
A, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
1.3 Ông Quang Xuân Q, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện
C, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1950; địa chỉ cư trú: Số 332, tổ 15,
ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Lý Văn L, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C,
tỉnh An Giang; vắng mặt;
3.2 Bà Lý Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh
An Giang; vắng mặt;
3.3 Ông Lý Văn B, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C,
tỉnh An Giang; có mặt;
3.4 Bà Đặng Thị K, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C,
tỉnh An Giang; có mặt;
3.5 Lý Văn K, sinh ngày 26/10/2008. Người đại diện theo pháp luật cha là
Lý Văn B, mẹ là Đặng Thị K; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
3.5 Lý Bảo K, sinh ngày 14/9/2010. Người đại diện theo pháp luật cha là
Lý Văn B, mẹ là Đặng Thị K; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
3.6 Lý Văn G, sinh năm 2017. Người đại diện theo pháp luật cha là Lý
Văn B, mẹ là Đặng Thị K; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, ản tự khai và các văn ản có trong hồ sơ vụ án Bà
Quang Thị Ngọc L, à Bành Thị Mỹ H, ông Quang Xuân Q trình ày: Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của à Quang Thị B (mẹ à L, à B chết năm 1988), vào khoảng năm 1960 có cho ông Nguyễn Văn H (cha à Đ) ở nhờ trên đất, khi ông H chết, vợ là Trần Thị T cũng mất, sau đó căn nhà tình nghĩa à Đ sử dụng và phát sinh thêm tùy tiện mà không hỏi chủ đất nên khởi kiện yêu cầu à Nguyễn Thị Đ di dời nhà hoặc các vật liệu, kiến trúc có trên phần đất sang nơi khác gồm: Căn nhà chính (nhà tình nghĩa) cuốn nền lát gạch tàu, vách ván tạp, mái tole chiều ngang 04m, dài 08m; căn nhà phụ nền đất, cột cây tạp, vách tole cũ, mái lợp tole cũ chiều ngang 04m, dài 05m; nhà vệ sinh ngang 1,5m, dài 1m; sàn nước ngang 01m, dài 01m để trả lại phần đất trống cho à L, à H và ông Q. Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại ch và đo đạc, kết quả: diện tích đất tranh chấp theo chỉ dẫn của à Quang Thị Ngọc L có diện tích 114,5m2 và phần đất do à Đ cùng các con cháu đang ở gồm: Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K và Lý Bảo K đang quản lý sử dụng; trên đất có 02 căn nhà, 01 nhà vệ sinh, 01 cây trứng cá và 01 cây mai kiểng; các nguyên đơn khởi kiện ổ sung yêu cầu phía gia đình à Đánh tháo dỡ nhà, nhà vệ sinh, chặt ỏ 01 cây trứng cá và 01 cây mai kiểng để trả diện tích đất 114,5m2 đất theo ản vẽ hiện trạng.
Bà Nguyễn Thị Đ trình ày: Bà đã nhận được thông áo thụ lý vụ án của
Tòa án. Không đồng ý dỡ nhà trả đất theo yêu cầu của nguyên đơn vì nhà à đang ở là do nhà tình nghĩa Nhà nước cấp cho mẹ à tên Trần Thị T vào năm 1999, khi mẹ à chết à tiếp tục ở cho đến nay.
Ông Lý Văn B trình ày: Ông ở trong nhà của à ngoại, khi à ngoại chết
ông tiếp tục ở để cúng gi hàng năm. Trước đây có thỏa thuận với ông Q là sẽ
hoàn trả cho ông số tiền là 10.000.000đồng theo kết quả ở ấp, xã hòa giải nhưng
hiện nay văn ản này không còn hiệu lực do hết thời hạn.
Bà Đặng Thị K trình ày: Không chấp thuận cùng với à Đ, anh B trả đất
cho nguyên đơn.
Ông Lý Văn L trình ày: Không chấp thuận cùng với à Đ dỡ nhà để trả
đất cho nguyên đơn.
Kết quả xem xét thẩm định tại ch : trên phần đất tranh chấp có căn nhà
loại nền gạch tàu, vách ván, mái tole được cấp số nhà 331, do Lý Văn B đứng
tên sổ hộ khẩu; căn nhà loại nhà nền đất, mái lợp tole được cấp số nhà 332, do
Nguyễn Thị Đ đứng tên sổ hộ khẩu (hai căn nhà này được gắn liền với nhau
nhưng được cấp hai số nhà và hộ khẩu riêng); trong nhà có các thành viên đang
ở gồm: Nguyễn Thị Đ, Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K
và Lý Bảo K (Lý Văn K và Lý Bảo K là con của Lý Văn B, Đặng Thị K); căn
nhà vệ sinh; 01 cây trứng cá và 01 cây mai kiểng;
Kết quả định giá: Phần đất tranh chấp có giá trị 400.000đồng/m2; căn nhà
cấp 4e, thân nhà ằng g nhóm 4, giá trị sử dụng 50% có giá 1.224.000đồng/m2;
căn nhà tạm , trên lợp tole, tỉ lệ sử dụng 30% có giá 1.008.000đồng/m2; căn nhà
vệ sinh có giá 4.896.000đồng/m2; 01 cây trứng cá và 01 cây mai kiểng có giá
300.000đồng/cây.
Kết quả đo đạc: Phần đất tranh chấp có diện tích 114,5m2 nối các mốc
điểm 1,2,3,4,5,6 theo ản vẽ hiện trạng ngày 02/8/2016.
Ủy an nhân dân huyện Chợ Mới có công văn số 341 ngày 19/02/2020
xác định phần đất đang tranh chấp ủy an quy hoạch là đất ở tại nông thôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát iểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ
lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định
của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghi Hội đồng xét xử căn cứ
Điều 166, 168 Bộ luật dân sự, các Điều 105, 106, 203 Luật đất đai, đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông, à Quang Thị Ngọc L, Bành Thị Mỹ
H, Quang Xuân Q; bà Nguyễn Thị Đ cùng các con, cháu Lý Văn L, Lý Thị H,
Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K và Lý Văn G được tiếp tục quản
lý, sử dụng diện tích 114,5m2 nối các điểm 1,2,3,4,5,6 theo sơ đồ đo đạc ngày
02/8/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Chợ Mới và có nghĩa vụ
hoàn giá trị đất cho các ông, à Quang Thị Ngọc L, Bành Thị Mỹ H, Quang
Xuân Q 45.800.000đồng; các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm
quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Quang Thị Ngọc L, à Bành Thị Mỹ H, ông Quang Xuân Q
khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về quyền sử dụng đất với à Nguyễn Thị Đ; phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy, đương sự có văn ản cam kết lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp. Bà Nguyễn Thị Đ có nơi cư trú trên địa àn huyện Chợ Mới và phần đất tranh chấp tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định;
Bà Lý Thị H có gửi giấy ủy quyền cho mẹ là à Nguyễn Thị Đ
đứng ra tranh chấp đất nhưng nội dung văn ản ủy quyền không thể hiện ủy uyền tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên Tòa án không chấp nhận ủy quyền. Bà Nguyễn Thị Đ, ông Lý Văn L, bà Lý Thị H vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1.3. Tại phiên tòa, ông Lý Văn B, à Đặng Thị K đề nghị đưa người con
tên là Lý Văn G, sinh năm 2017 vào tham gia tố tụng và chịu trách nhiệm làm người giám hộ cho con, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử không phải quay lại thủ tục tố tụng ởi vì từ trước nay cũng đã giám hộ cho con là Lý Văn Kiệt và Lý Bảo Kiên. Hội đồng xét xử, căn cứ vào yêu cầu của đương sự, căn cứ vào đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; nhằm để đảm ảo quyền lợi của đương sự, đảm ảo quyền định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử đưa cháu Lý Văn G, sinh năm 2017. Người đại diện theo pháp luật cha là Lý Văn B, mẹ là Đặng Thị K; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang vào tham gia tố tụng.
1.4. Trong vụ án có đương sự tham gia tố tụng là người chưa thành niên,
Hội đồng xét xử có vị Hội thẩm là người công tác tại cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em là đúng với quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Quang Thị Ngọc L, à Bành Thị Mỹ H, ông Quang Xuân Q yêu
cầu à Nguyễn Thị Đ cùng với những người đang ở trên phần đất tranh chấp có nghĩa vụ giao trả đất, căn cứ khởi kiện là kết quả hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy an nhân dân xã Tấn Mỹ. Xét lời trình ày của các đương sự thì phần diện tích 114,5m2 đất đang tranh chấp theo ản vẽ hiện trạng ngày 02/8/2016, trên đất có căn nhà à Nguyễn Thị Đ đang ở về nguồn gốc đất là của à Quang Thị B (mẹ à L, à H, ông Q, à B chết năm 1988) có cho ông Nguyễn Văn H (cha à Đ) ở nhờ trên đất đến cuối đời. Năm 1999, ông Quang Xuân Q có làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy an nhân dân xã Tấn Mỹ, an ấp Tấn Quới và Ban địa chính xã khi nhà nước cấp tiền xây cất nhà tình nghĩa cho ông H nhưng không được giải quyết. Đến năm 2011 ông H mất, à Đ tiếp tục sử dụng căn nhà và xây cất thêm như hiện trạng thẩm định của Tòa án. Đã có cơ sở xác định phần đất tranh chấp là di sản của à Quang Thị B là mẹ của à L, à H, ông Q ị người khác chiếm giữ cho nên à L, à H, ông Q khởi kiện đòi lại di sản là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 105, 166 và 203 Luật đất đai; nguyên đơn yêu cầu ị đơn và người liên quan di dời nhà và h trợ số tiền 22.500.000đồng; ông Lý Văn B không đồng ý. Thấy rằng, phần đất tranh chấp, à Nguyễn Thị Đ cùng các con cháu đang ở gồm: Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý
Bảo K và Lý Văn G đang quản lý sử dụng cất nhà để ở ổn định; hiện nay không
có đất khác để ở; căn nhà là nhà tình nghĩa; diện tích đất tranh chấp được Ủy
an nhân dân huyện Chợ Mới quy hoạch là đất ở tại nông thôn, đủ diện tích tách
thửa theo quy định. Vì vậy, nên để à Nguyễn Thị Đ cùng các con cháu đang ở
gồm: Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K và Lý
Văn G được tiếp tục ở trên phần đất và có nghĩa vụ trả giá trị đất cho nguyên
đơn và được kê khai cấp giấy chứng nhận là phù hợp pháp luật theo Điều 143
Luật đất đai và Điều 166, 168 Bộ luật dân sự, cụ thể: Bà Nguyễn Thị Đ cùng các
con cháu đang ở gồm: Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K,
Lý Bảo K và Lý Văn G đang quản lý, sử dụng diện tích 114,5m2 x 400.000
đồng/m2 = 45.800.000đồng.
Về chi phí: Chi phí tố tụng à Quang Thị Ngọc L đã tạm nộp: Chi phí
xem xét, thẩm định tại ch , định giá 800.000đồng; chi phí đo đạc 674.300đồng
và Tòa án đã thực hiện. Căn cứ Điều 156, 157, 158, 164, 165 và 166 Bộ luật tố
Tụng dân sự; do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ị đơn và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu chi phí này và có nghĩa vụ hoàn trả lại
cho nguyên đơn.
Về án phí: Vụ án được thụ lý năm 2016 nhưng theo nguyên tắc có lợi
cho đương sự nên áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội để tính án phí. Bà Nguyễn Thị Đ là
người người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 147, 156, 157, 158, 164, 165, 166, 227 và
273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 166, 168 và 468 Bộ luật dân sự; Các Điều
105, 143, 166 và 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quang Thị Ngọc L, à
Bành Thị Mỹ H, ông Quang Xuân Q.
1) Buộc à Nguyễn Thị Đ cùng các con cháu gồm: Lý Văn L, Lý Thị H,
Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K và Lý Văn G có nghĩa vụ liên đới
ồi hoàn giá trị đất cho à Quang Thị Ngọc L, à Bành Thị Mỹ H, ông Quang
Xuân Q thành tiền là 45.800.000đồng (Bằng chữ: Bốn mươi lăm triệu tám trăm
nghìn đồng);
2) Bà Nguyễn Thị Đ cùng các con cháu gồm: Lý Văn L, Lý Thị H, Lý
Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K và Lý Văn G được sử dụng diện tích
đất 114,5m2 nối các mốc điểm 1,2,3,4,5,6 theo ản vẽ hiện trạng ngày 02/8/2016
và có trách nhiệm đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký
lại quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai đúng với diện tích mà mình
được sử dụng. (Bản vẽ hiện trạng khu đất tranh chấp là một ộ phận không thể
tách rời ản án).
3) Về chi phí: Buộc à Nguyễn Thị Đ cùng các con cháu gồm: Lý Văn L,
Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K và Lý Văn G có nghĩa vụ hoàn trả cho à Quang Thị Ngọc L số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại ch , định giá 800.000đồng (Bằng chữ: Tám trăm nghìn đồng) và số tiền chi phí đo đạc 674.300đồng (Bằng chữ: Sáu trăm ảy mươi ốn nghìn a trăm đồng).
4) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5) Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí;
- Ông Lý Văn L, Lý Thị H, Lý Văn B, Đặng Thị K, Lý Văn K, Lý Bảo K
và Lý Văn G phải liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.290.000đồng (Bằng chữ: Hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng);
- Bà Quang Thị Ngọc L được nhận lại số tiền 200.000đồng (Bằng chữ:
Hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu số 0004211 ngày 02/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
- Bà Bành Thị Mỹ H được nhận lại số tiền 200.000đồng (Bằng chữ: Hai
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu số 0004212 ngày 02/6/2016 và số tiền 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu số 0008139 ngày 27/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
- Ông Quang Xuân Q được nhận lại số tiền 200.000đồng (Bằng chữ: Hai
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu số 0004213 ngày 02/6/2016 và số tiền 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu số 0008140 ngày 27/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày ản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |