vanban.org

Bản án 58/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế V.

Buộc Ông Tô Bạch Đ trả cho anh Nguyễn Thế V số tiền nợ vay 19.000.000đ (mười chín triệu đồng). Kể từ ngày anh Nguyễn Thế V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Tô Bạch Đ chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông Đ còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Nguyễn Thế V khởi kiện ông Tô Bạch Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2020/DS-ST
Ngày 22-7-2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Phong

Ông Châu Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2020/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1984; cư trú tại: Khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Tô Bạch Đ; cư trú tại: Ấp NC, xã NC, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Nguyễn Thế V trình bày:

Khoảng tháng 8 năm 2019al, anh có cho ông Đ mượn 55.000.000đ, không có làm biên nhận, không có thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả đến khi ông Đ lên tôm. Đến thời hạn thỏa thuận, ông Đ không trả nên anh yêu cầu ông Đ viết biên nhận mượn tiền ngày 09/12/2019al với nội dung: Ông Đ mượn anh số tiền 55.000.000đ, không có thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả đến tháng 2 năm 2020al nhưng đến hạn trả nợ ông Đ chỉ trả cho anh được 36.000.000đ, còn nợ lại 19.000.000đ. Anh đã nhiều lần yêu cầu ông Đ trả số nợ trên nhưng ông Đ vẫn không trả. Anh V yêu cầu ông Đ trả cho anh số tiền nợ 19.000.000đ.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Tô Bạch Đ nhưng ông vẫn vắng mặt và không có ý kiến giải trình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Tô Bạch Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Đ là phù hợp là phù hợp.

Về nội dung: Anh V khởi kiện yêu cầu ông Đ trả số tiền nợ 19.000.000đ. Xét thấy, theo lời trình bày của anh V tại phiên tòa và biên nhận mượn tiền ngày 09/12/2019al, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Anh V có cho ông Đ vay số tiền 55.000.000đ, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn trả đến tháng 02 năm 2020. Anh V khởi kiện cho rằng ông Đ còn nợ anh 19.000.000đ. Đối với ông Đ đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ nhưng ông đều từ chối nhận với lý do đã trả xong khoản tiền nợ nhưng không có mặt tại Tòa án để giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh ông đã trả xong số tiền nợ cho anh V.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ông Đ còn nợ anh V số tiền 19.000.000đ, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V, buộc ông Đ trả cho anh V số tiền vay 19.000.000đ.

Về án phí dân sự: Anh V không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí được nhận lại. Ông Đ phải chịu 19.000.000đ x 5% = 950.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thế V.

Buộc Ông Tô Bạch Đ trả cho anh Nguyễn Thế V số tiền nợ vay 19.000.000đ (mười chín triệu đồng).

Kể từ ngày anh Nguyễn Thế V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Tô Bạch Đ chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng ông Đ còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí dân sự: Anh Nguyễn Thế V không phải chịu, hoàn trả lại cho anh V 475.000đ (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0010489 ngày 29 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi. Ông Tô Bạch Đ phải chịu 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh Nguyễn Thế V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Bạch Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ