vanban.org

Bản án 58/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điể m b khoản 1 Điề u 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Y S Niê, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. Xử phạt bị cáo Y S Niê 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Tươi cùng đồng bọn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điể m b khoản 1 Điề u 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HSPT
Ngày: 31 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr

- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn, ông Nguyễn Văn Chung

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 412/2018/TLPT-HS ngày 10/12/2018 đối với các bị cáo: Y S Niê, Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HSST, ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Y S Niê; Sinh ngày năm 1982, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 12/12; Là Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; Nghề nghiệp: Làm nông (Nguyên là phó Trưởng Công an xã E); Con ông Y T1 Niê và bà H’R Niê; Vợ là H’J Êban; Bị cáo có hai con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2009; Tiền sự, tiền án: không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Y T Niê; Sinh năm 1992, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y W1 Ayun và bà H’B Niê; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Y Y Niê (Tên gọi khác: Y G Niê); Sinh ngày 25 tháng 01 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y H1 Ayun (đã chết) và bà H’B1 Niê; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, Tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Y Z Niê Kđăm; Sinh ngày 10 tháng 6 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y C Ayun và bà H’B2 Niê; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Y D Ayun; Sinh năm 1996, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y S1 Niê Hra và bà H’D Ayun; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Y M Niê; Sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y N1 Mlô và bà H’Y Niê; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Y N Niê; Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y L Ayun và bà H’ N Niê; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên: Y W Êban; Sinh ngày 24 tháng 02 năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y S Niê (đã chết) và bà H’B3 Êban; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

9. Họ và tên: Y L Ayun; Sinh năm 1998, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y N3 Byă và bà H’D3 Ayun; Bị cáo có vợ là H’ K Niê, có 01 con 10 tháng tuổi; Tiền sự, tiền án: không.

Ngày 24 tháng 4 năm 2018 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Các bị cáo không có kháng cáo:

1. Họ và tên: Y D1 Mlô; Sinh năm 1995, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Ê đê; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Y T4 Niê (Đã chết) và bà H’R1 Mlô (Đã chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, hiện bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đăk Tân – Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Y S Niê: Luật sư Lê Thanh K và Luật sư Nguyễn Đức D - Chi nhánh Công ty Luật TNHH-MTV T – Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh, đều có mặt.

* Người bị hại: Anh Y Pl Niê, sinh năm 1992

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Y Đ1 Ayun, sinh năm 1992

Nơi cư trú: Buôn Y1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt;

2. Chị H’Đ1 Niê Hrah, sinh năm 1998

Nơi cư trú: Buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

* Người phiên dịch: Ông Y T B’Krông, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 30 tháng 4 năm 2017 sau khi uống rượu tại xã Q, huyện C thì Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y M Niê, Y D1 Mlô, Y M1 Niê, H’Đ1 Niê Hrah, H’K Niê, H’B Mlô, Y B Ayun, Y W Êban, Y Ph Niê đi về hướng xã E, huyện C. Khi đến lô cao su thuộc buôn Y1, xã E thì gặp Y Ph1 Niê đang ngồi nhậu cùng nhóm thanh niên buôn T và buôn Y1. Lúc này Y B, Y T, Y Ph, H’Đ1 đi bộ vào ngồi nhậu cùng nhóm thanh niên buôn T và buôn Y1, số người còn lại ngồi trên xe môtô đợi ở ngoài đường liên xã E – Quảng Tiến. Khoảng 05 phút sau thì giữa Y B và Y Ph1 xảy ra mâu thuẫn, nên Y B đã dùng tay tát vào mặt Y Ph1 một cái, thì nhóm thanh niên buôn T và buôn Y1 đã đuổi đánh Y B, nhưng Y B đã bỏ chạy được. Sau đó nhóm thanh niên buôn Bl và buôn Y đi về lô cao su buôn Y gần thao trường huấn luyện kỹ thuật thuộc Ban Chỉ huy quân sự huyện C tiếp tục ngồi uống rượu tại đây. Sau đó, Y T Niê điều khiển xe môtô đến nhà Y N Niê tại buôn Y1, xã E và chở Y N đến nhậu cùng. Trong lúc đang ngồi nhậu thì có Y Th1 Êban, Y B2 Niê, Y Y3 Niê, Y Y4 Niê, Y L Ayun, Y K Ayun, Y W Êban và Y S Niê đến và cùng vào ngồi uống rượu chung. Tuy nhiên, sau đó Y K, Y Y4, Y Ph, Y M1 đi về trước.

Sau đó, Y Ph1 đã gọi điện thoại di động rủ Y Pl Niê đi đánh nhóm thanh niên buôn Y thì Y Pl đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày sau khi nhậu tại nhà Y W2 Niê Kđăm xong thì Y Pl điều khiển xe môtô chở Y Z1 Hwing đi về hướng UBND xã E thì nhìn thấy nhóm thanh niên buôn Y đang ngồi nhậu trong lô cao su. Khi đi về đến nhà cộng đồng buôn T, xã E thì Y Pl và Y Z1 gặp Y Ph1, Y Đ1 Ayun, Y Kh Niê, Y Th Niê và Y S1 Niê. Lúc này, Y Ph1 đã kể lại cho cả nhóm biết việc bị Y B đánh vào mặt, sau đó Y Ph1 và Y Pl rủ Y Z1 Hwing, Y Đ1 Ayun, Y Kh Niê, Y Th Niê, Y S1 Niê đi đến lô cao su buôn Y tìm Y B để đánh lại thì tất cả đều đồng ý. Khi đi Y Đ1 Ayun mang theo 01 con dao rựa dài khoảng 60cm, cán dao bằng tre, lưỡi bằng kim loại, mũi dao quắm. Sau đó cả nhóm đi trên ba xe môtô đến khu vực thao trường huấn luyện kỹ thuật thuộc Ban Chỉ huy quân sự huyện C và để xe môtô lại tại khu vực đường liên xã Quảng T – E. Lúc này, Y Z1 đứng ngoài giữ xe còn Y Th, Y S1, Y Pl, Y Kh đi bộ vào bên trong lô cao su và nhặt cây gỗ cao su, chén đựng mủ cao su trong lô cao su buôn Y để làm hung khí, Y Đ1 thì cầm dao rựa đã mang theo, còn Y Ph1 thì không cầm hung khí gì mà chạy thẳng xe môtô vào vị trí nhóm thanh niên buôn Y đang ngồi nhậu, Y Pl Niê nói với nhóm thanh niên đang ngồi nhậu “Tại sao bọn mày đánh Y Ph1” rồi Y Pl và cùng nhóm của Y Pl là Y Th Niê, Y Kh Niê, Y Ph1 Niê,… dùng cây ném về phía nhóm thanh niên này và bỏ chạy. Thấy vậy, Y S Niê dùng xe môtô chở H’Đ1 Niê Hrah đi thẳng về phía nhóm thanh niên buôn T, buôn Y1 thì bị Y Đ1 dùng dao rựa chém một nhát từ trên xuống, nhưng Y S né được nên đã trúng vào mắt bên phải của H’Đ gây thương tích và làm cho Y S, H Đ cùng chiếc xe máy bị ngã. Sau đó Y S đứng dậy đuổi theo Y Đ1 thì Y Đ1 bỏ chạy được một đoạn rồi lên xe đồng bọn chạy mất. Y S quay lại thì nhìn thấy Y Pl Niê đang bỏ chạy ra đường nhựa, ngược chiều với Y S, nên Y Siêu đã dùng chân phải đá vào chân phải của Y Pl Niê làm Y Pl Niê ngã úp mặt xuống đất. Y S tiếp tục dùng chân đá một cái vào lưng của Y Pl Niê, sau đó dùng tay chân khống chế và mở khăn bịt mặt của Y Pl Niê ra và Y S nói với đồng bọn “Đánh thằng này đi, thằng này đánh H’Đ”. Thấy vậy, Y Y Niê, Y D1 Mlô, Y T Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun đã cùng chạy đến sử dụng chén đựng mủ cao su, cây gỗ cao su có sẵn trong lô cao su ném và dùng tay đánh vào người của Y Pl Niê gây thương tích, rồi tất cả bỏ đi, để Y Pl Niê nằm tại hiện trường. Sau đó H’Đ1 Niê Hrah được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện C, còn Y Pl Niê được người nhà tìm thấy và đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk.

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 899/PY-TgT ngày 13 tháng 7 năm 2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk đã kết luận: Y Pl Niê bị đa thương vùng đầu, mặt, sẹo ảnh hưởng thẩm mỹ, với tỷ lệ thương tích 21%, do vật cứng, tày tác động.

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 1083/PY-TgT ngày 6 tháng 9 năm 2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk đã kết luận: H’Đ1 Niê Hrah bị đa thương phần mềm, với tỷ lệ thương tích 10%, do vật cứng có cạnh tác động.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HSST, ngày 11/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Cư M’Gar đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y D1 Mlô, Y S Niê, Y N Niê, Y M Niê, Y W Êban, Y L Ayun phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

+ Xử phạt bị cáo Y T Niê 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị tạm giam, từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018.

+ Xử phạt bị cáo Y Y Niê 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị tạm giam, từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018.

+ Xử phạt bị cáo Y D Ayun 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị tạm giam, từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018.

+ Xử phạt bị cáo Y D1 Mlô 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị tạm giam, từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018.

+ Xử phạt bị cáo Y N Niê 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

+ Xử phạt bị cáo Y L Ayun 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

+ Xử phạt bị cáo Y M Niê 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

+ Xử phạt bị cáo Y W Êban 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Y Z Niê Kđăm 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị tạm giam, từ ngày 04/12/2017 đến ngày 02/5/2018.

- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Y S Niê 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn xử lý vật chứng, giải quyết về trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/10/2018 bị cáo Y S Niê có đơn kháng cáo kêu oan, vì cho rằng bị cáo không tham gia đánh và gây thương tích cho Y Pl Niê, mục đích gạt chân và khống chế Y Pl là nhằm bắt giữ người phạm tội quả tang nên bị cáo không phạm tội.

Trong các ngày 23, 24, 25, 26/10/2018, các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo (Riêng bị cáo Y D1 Mlô không có kháng cáo).

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun khai nhận: cụ thể các bị cáo khai khi thấy nhóm của người bị hại xông vào tấn công nhóm của các bị cáo đang nhậu trong lô cao su thì Y Pl Niê có nói “Tại sao bọn mày đánh Y P” rồi Y Pl và một số bạn của Y Pl là Y Thé Niê, Y Khoăn Niê, Y Ph1 Niê, … đã dùng cây ném về phía nhóm của các bị cáo và bỏ chạy, bị cáo Y S Niê đứng dậy dùng xe môtô chở H’Đ1 Niê Hrah ngồi phía sau chạy thẳng về phía nhóm thanh niên này thì bị Y Đ1 Ayun dùng dao rựa chém trúng vào mắt bên phải của H’Đ gây thương tích và Y S, H Đ cùng chiếc xe máy bị ngã, Y S đứng dậy đuổi theo Y Đ1 nhưng không kịp, sau đó Y Siêu dùng chân đá vào chân của Y Pl Niê làm Y Pl Niê ngã úp mặt xuống đất. Y S tiếp tục dùng chân đá vào lưng của Y Pl Niê và khống chế Y Pl Niê không cho Y Pl bỏ chạy. Lúc này, bị cáo Y N Niê nghe bị cáo Y S nói với các bị cáo “Đánh thằng này đi, thằng này đánh H’Đ”. Nghe vậy, các bị cáo đã cùng chạy đến sử dụng chén đựng mủ cao su, cây gỗ cao su có sẵn trong lô cao su ném và dùng tay đánh vào người của Y Pl Niê gây thương tích, rồi tất cả bỏ đi, để Y Pl Niê nằm tại hiện trường. Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và tất cả các bị cáo đều khai không có mâu thuẫn với với bị cáo Y S Niê trong cuộc sống hàng ngày.

Riêng bị cáo Y S Niê khai: Bị cáo Y S là phó trưởng Công an xã E, huyện C, vào ngày 30/4/2017 bị cáo không có lịch trực tại đơn vị nên buổi trưa bị cáo có đi dự tiệc sinh nhật và có uống bia rượu, trong lúc dự tiệc bị cáo Y S mặc thường phục và có Y T Niê là anh em họ với bị cáo điện thoại mời bị cáo Y S đến lô cao su nhậu, sau đó khi bị cáo Y S gọi điện thoại lại cho Y T thì không liên lạc được nên bị cáo Y S bực tực dùng xe máy chạy đến chỗ nhóm Y T đang nhậu và dùng tay tát vào mặt Y T làm Y T khóc thì được mọi người can ngăn và cùng mời bị cáo Y S ngồi uống rượu. Trong lúc ngồi nhậu thì có nhóm người bị hại gồm Y Đ1, Y Ph1, Y Pl1, Y Kh1, Y Th,… cầm hung khí xông vào tấn công nhóm của bị cáo Y S đang nhậu, nên bị cáo Y S Niê dùng xe môtô chở H’Đ1 Niê Hrah đi thẳng về phía nhóm thanh niên này thì bị Y Pl Niê (Y Đ1 không chém Y S Niê và H’Đ1 Niê Hrah) dùng dao rựa chém một nhát từ trên xuống, nhưng bị cáo Y S né kịp nên đã trúng vào mắt bên phải của H’Đ gây thương tích, bị cáo Y S, H Đ cùng chiếc xe máy bị ngã. Sau đó bị cáo Y S đứng dậy đuổi theo Y Pl nhưng không kịp và khi thấy Y Pl Niê đang bỏ chạy ra đường nhựa, ngược chiều với bị cáo Y S thì bị cáo Y S đã dùng chân phải gạt vào chân phải của Y Pl Niê làm Y Pl Niê ngã úp mặt xuống đất, sau đó dùng tay chân khống chế và mở khăn bịt mặt của Y Pl Niê ra và lúc này tất cả nhóm của bị cáo Y S đều xông vào đánh Y Pl rồi bị cáo bỏ về báo với cơ quan, không đưa Y Pl đi Bệnh viện và cũng không bảo vệ hiện trường. Tuy nhiên, bị cáo Y S cho rằng hành vi của bị cáo gạt chân, đánh đá Y Pl và khống chế Y Pl là nhằm mục đích bắt giữ người phạm tội quả tang vì bị cáo là Công an xã đang thực hiện nhiệm vụ nên bị cáo không phạm tội như Bản án sơ thẩm đã tuyên bố.

Tại phiên tòa, khi các Luật sư hỏi lại thì bị cáo Y N Niê khai: Tuy bị cáo đứng quay lưng với bị cáo Y S Niê nhưng tại vị trí Y S đánh Y Pl thì chỉ có một mình Y S và nghe rất rõ Y S có nói “Đánh thằng này đi, thằng này đánh H’Đ”, còn các bị cáo khác khai không nghe rõ.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, nay quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo Y S Niê kháng cáo kêu oan thì căn cứ vào lời khai của các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y D1 Mlô, Y N Niê, Y M Niê, Y W Êban, Y L Ayun, người bị hại Y Pl Niê, Y Th Niê, Y Kh Niê, Y Ph1 Niê,… tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Y S Niê đã thực hiện hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử và không oan, sai.

Xét mức hình phạt đối với các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y N Niê, Y L Ayun với mỗi bị cáo 02 năm tù, các bị cáo Y M Niê, Y W Êban mỗi bị cáo 02 năm 03 tháng tù, bị cáo Y Z Niê Kđăm 01 năm 6 tháng và 03 năm tù đối với bị cáo Y S Niê mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, do các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y N Niê, Y M Niê, Y W Êban, Y L Ayun có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại, người bị hại bãi nại, là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nhóm người bị hại cũng có lỗi đã tấn công các bị cáo trước, thương tích của người bị hại chủ yếu do bị cáo Y S Niê gây ra. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y Z Niê Kđăm, Y N Niê, Y M Niê, Y W Êban, Y L Ayun và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y S Niê. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Căn cứ điể m a khoản 1 Điề u 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo Y S Niê, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về hình phạt. Áp dụng khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Y S Niê 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điể m b khoản 1 Điề u 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (Áp dụng khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Y D1 Mlô); chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar về biện pháp chấp hành hình phạt tù kể cả bị Y D1 Mlô.

Áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (Áp dụng thêm Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Y Z Niê Kđăm): Xử phạt bị cáo Y T Niê 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Y Y Niê (tức Y G Niê) 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, Y D Ayun 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Y N Niê 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Y L Ayun 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo và xử phạt bị cáo Y D1 Mlô 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo đều về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách đối với mỗi bị cáo là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm; xử phạt bị cáo Y M Niê 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Y W Êban 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo đều về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách đối với mỗi bị cáo là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tính từ ngày tuyên án phúc thẩm và xử phạt bị cáo Y Z Niê Kđăm 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Đồng thời giữ nguyên các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Y S Niê trình bày: Cấp sơ thẩm khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo Y S Niê về tội “Cố ý gây thương tích” là oan cho bị cáo Y S Niê, vì bị cáo là phó Công an xã E nên có nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương. Vào chiều ngày 30/4/2017, mặc dù bị cáo không được phân công lịch trực và không mặc đồng phục của Công an xã, nhưng khi đang ngồi nhậu thấy có nhóm của người bị hại gồm Y Đ1 Ayun, Y Pl Niê, … dùng hùng khí đến tấn công nhóm của bị cáo Y S, với chức trách nhiệm vụ được giao nên bị cáo Y S đã dùng xe đuổi theo nhóm của người bị hại thì bị Y Pl Niê dùng dao chém trúng chị H’ Đ bị thương, cả người và chiếc xe máy bị ngã. Thấy vậy, bị cáo Y S đã đuổi theo và gạt chân Y Pl Niê, khống chế Y Pl với mục đích là nhằm bắt giữ người phạm tội quả tang để giao cho cơ quan pháp luật xử lý đối tượng vi phạm phạm luật nên bị cáo Y S Niê không phạm tội như Cấp sơ thẩm đã kết tội. Mặt khác, cấp sơ thẩm xác định người dùng dao chém chị H Đ là Y Đ Ayun là không đúng, mà người chém chị H Đ là anh Y Pl Niê. Tại phiên tòa, Luật sư Lê Thanh Kiệt đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Y S Niê không phạm tội “Cố ý gây thương tích” và khôi phục lại uy tín, danh dự cho bị cáo. Còn Luật sư Nguyễn Đức Du thì cho rằng, do điều tra thu thập chứng cứ tại cấp sơ thẩm còn mâu thuẩn nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra lại vụ án.

Các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo. Riêng bị cáo Y S Niê đồng ý với ý kiến bào chữa của các Luật sư và cho rằng bị cáo bị oan, không phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Qua phần tranh luận, Kiểm sát viên và các Luật sư tranh luận, đối đáp với nhau, đồng thời Kiểm sát viên và các Luật sư đều giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 2017, tại lô cao su thuộc địa phận buôn Y, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y S Niê, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun và bị cáo Y D1 Mlô đã có hành vi dùng tay đánh anh Y Pl Niê, dùng gậy gỗ cao su và chén đựng mủ cao su ném vào người anh Y Pl Niê gây thương tích với tỷ lệ 21%, trong đó có bị cáo Y S Niê là người đã gây thương tích chính cho Y Pl Niê.

Đối với bị cáo Y S Niê có thừa nhận về hành vi đánh anh Y Pl Niê, nhưng cho rằng hành vi đó không phải là tội phạm, vì tại thời điểm đó bị cáo là phó Công an xã E, huyện C đang thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, thì thấy: Vào ngày 30 tháng 4 năm 2017 bị cáo Y S Niê không được lãnh đạo đơn vị phân công trực an ninh trật tự nên buổi trưa bị cáo mặc thường phục đi dự tiệc sinh nhật, buổi chiều sau khi uống bia rượu tại tiệc sinh nhật thì bị cáo Y S Niê đến ngồi nhậu tại lô cao su cùng với các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, Y D1 Mlô,.... tại lô cao su bị cáo đã tát vào mặt Y T Niê, đến khoảng hơn 16h30 phút cùng ngày khi thấy nhóm người bị hại là Y Pl Niê, Y Đ1 Ayun, Y Khoăn Niê, Y Thé Niê … dùng hung khí đến tấn công vào nhóm của bị cáo thì chính bị cáo Y S Niê là người đầu tiên đã dùng xe máy đuổi theo Y Điăm và dùng chân đá vào chân Y Pl Niê làm Y Pl bị ngã úp mặt xuống đất và chấn thương vào vùng trán, mặt và miệng Y Pl rồi tiếp tục dùng chân đá vào người Y Pl, không chế Y Pl không cho bỏ chạy và bị cáo Y S nói với đồng bọn “Đánh thằng này đi, thằng này đánh H’Đ” thì ngay lập tức các bị cáo khác đã cùng chạy đến đánh vào người của Y Pl Niê gây thương tích. Sau khi đánh Y Pl Niê xong, bị cáo Y S Niê và các bị cáo khác đều bỏ đi, để Y Pl Niê nằm một mình tại hiện trường. Đến khoảng 19h cùng ngày bị cáo Y S Niê mới báo cáo với lãnh đạo Công an xã E (Bl số 318) về sự việc xảy ra. Do đó, việc bị cáo Y S Niê cho rằng mục đích gạt chân, đánh đá và khống chế Y Pl Niê là nhằm bắt giữ người phạm tội quả tang, bị cáo không phạm tội là không có căn cứ.

Mặt khác, tại cơ quan điều tra Y Thé Niê, Y Khoăn Niê, Y Ph1 Niê, Y Đ Ayun… (Bl số 648, 649, 656, 657, 664, 665) là nhóm của người bị hại và là bạn bè với Y Đ Ayun, Y Pl Niê đều khai Y Đ Ayun là người dùng dao gây thương tích cho chị H Đ nên ý kiến của các Luật sư cho rằng Y Pl là người chém chị H Đ là không có cơ sở.

Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar đã tuyên bố các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun và bị cáo Y S Niê phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của anh Y Pl Niê với tỷ lệ thương tích 21%, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật.

. Xét kháng cáo của các bị cáo:

Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Y S Niê như đã nhận định tại đoạn 2 ở mục [1]: Vào ngày 30 tháng 4 năm 2017 bị cáo Y S Niê không được lãnh đạo phân công trực tại đơn vị, buổi trưa bị cáo mặc thường phục đi dự tiệc sinh nhật, sau khi uống bia rượu tại tiệc sinh nhật thì buổi chiều bị cáo Y S Niê đến ngồi nhậu tại lô cao su cùng với các bị cáo Y Tươi Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y S Niê, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, Y D1 Mlô,... Khi đến lô cao su bị cáo đã tát vào mặt Y T Niê, đến khoảng hơn 16h cùng ngày khi thấy nhóm người bị hại là Y Pl Niê, Y Đ Ayun,… dùng hung khí đến tấn công vào nhóm bị cáo thì chính bị cáo Y S Niê là người đầu tiên đã dùng xe máy đuổi theo Y Đ Ayun và dùng chân đá vào chân Y Pl Niê làm Y Pl bị ngã úp mặt xuống đất và bị chấn thương vào vùng trán, mặt và miệng Y Pl. Sau đó, bị cáo Y S tiếp tục dùng chân đá vào người Y Pl, không chế Y Pl không cho bỏ chạy, đồng thời cũng không can ngăn đồng bọn và nói “Đánh thằng này đi, thằng này đánh H’Đ”. Ngay sau đó, các bị cáo khác đã cùng chạy đến sử dụng chén đựng mủ cao su, cây gỗ cao su có sẵn trong lô cao su ném và dùng tay cùng đánh vào người của Y Pl Niê gây thương tích. Sau khi đánh Y Pl Niê xong, bị cáo Y S Niê và các bị cáo khác đều bỏ đi, để Y Pl Niê nằm một mình tại hiện trường. Đối với bị cáo Y S Niê đến khoảng 19h cùng ngày thì bị cáo mới báo cáo với lãnh đạo Công an xã E về sự việc xảy ra. Do đó, việc bị cáo Y S Niê kháng cáo cho rằng mục đích gạt chân, đánh đá và khống chế Y Pl Niê là nhằm bắt giữ người phạm tội quả tang, bị cáo không phạm tội là không có căn cứ. Do đó, đơn kháng cáo kêu oan của bị cáo Y S Niê là không có cơ sở nên không chấp nhận kháng cáo.

Tuy bị cáo Y S Niê không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, vì nhóm người bị hại cũng có lỗi đã tấn công nhóm của bị cáo trước nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm là phù hợp.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, thì thấy: Mức hình phạt đối với các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y D Ayun, Y N Niê, Y L Ayun kể cả bị cáo Y D1 Mlô (không có kháng cáo) với mỗi bị cáo 2 năm tù; Bị cáo Y Z Niê Kđăm là người chưa thành niên 01 năm 6 tháng tù là thỏa đáng nên không thể giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, đối với bị cáo Y M Niê và bị cáo Y W Êban khi thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y N Niê, Y L Ayun nên Bản án sơ thẩm đã nhận định vai trò khi phạm tội của hai bị cáo này là như các bị cáo nêu trên, do đó mức hình phạt bằng nhau nhưng ở phần quyết định của Bản án sơ thẩm lại tuyên phạt Y M Niê 02 năm 03 tháng tù và Y W Êban 02 năm 03 tháng tù với mức án cao hơn so với các bị cáo nêu trên là không đúng, mâu thuẫn với phần nhận định và thực tế không công bằng, nên phải sửa Bản án sơ thẩm là xử phạt bị cáo Y M Niê và bị cáo Y W Êban mỗi bị cáo 02 năm tù là phù hợp.

Xét yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Y T Niê,

Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, thì thấy: Thương tích 21% của bị hại anh Y Pl Niê chủ yếu là do bị cáo Y S Niê gây ra khi dùng chân đá vào chân Y Pl Niê làm Y Pl bị ngã úp mặt xuống đất, theo kết quả giám định thương tích thể hiện anh Y Pl bị thương tích ở vùng trán, vùng mặt và miệng do vật cứng tày tác động là phù hợp với hiện trường của vụ án có nhiều cành cây cao su khô, chén đựng mũ cao su. Tại phiên tòa các bị cáo trên đều khai sau khi bị cáo Y S Niê đánh Y Pl Niê thì các bị cáo xông vào đánh Y Pl vào lưng, vào người, có bị cáo dùng cành cây cao su khô, có bị cáo dùng chén đựng mũ cao su ném và dùng tay đánh Y Pl. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; sau khi phạm tội, các bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo và đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại, được bị hại bãi nại cho các bị cáo; Mặt khác, nhóm của người bị hại và anh Y Pl Niê cũng có lỗi đã tấn công nhóm của các bị cáo trước, trong đó có Y Đ1 Ayun đã thực hiện hành vi dùng dao chém chị H’Đ1 Niê Hrah bị thương tích 10%, Y Pl Niê, Y Thé Niê, Y Khoăn Niê và một số người khác cầm cây gỗ ném vào nơi các bị cáo đang ngồi nhậu; Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 nên cần chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo, sửa Bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Đối với bị cáo Y D1 Mlô, tuy không kháng cáo nhưng vai trò khi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là như các bị cáo khác (Trừ bị cáo Y S Niê) nên cần xem xét sửa Bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo để đảm bảo tính công bằng của pháp luật là phù hợp. Do bị cáo Y D1 Mlô đã đi chấp hành án hình phạt tù tại Trại giam Đắk Tân nên phải ra Quyết định trả tự do cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác theo khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Tất cả các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điể m b khoản 1 Điề u 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Y S Niê, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Y S Niê 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

[2]. Căn cứ điể m b khoản 1 Điề u 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự (Áp dụng thêm khoản 4 Điều 328, khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Y D1 Mlô).

Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt tù kể cả bị Y D1 Mlô.

- Áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 (Áp dụng thêm Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Y Z Niê Kđăm).

+ Xử phạt bị cáo Y T Niê 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y Y Niê (tức Y G Niê) 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y D Ayun 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y N Niê 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y L Ayun 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y M Niê 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y W Êban 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

+ Xử phạt bị cáo Y D1 Mlô 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên trả tự do cho bị cáo Y D1 Mlô, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

+ Xử phạt bị cáo Y Z Niê Kđăm 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Y T Niê, Y Y Niê, Y Z Niê Kđăm, Y D Ayun, Y M Niê, Y N Niê, Y W Êban, Y L Ayun, Y D1 Mlô cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục; Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo dõi, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ