vanban.org

Bản án 58/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 14/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn D 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/6/2019). Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Dung phạm tội "Cướp tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 168 của BLHS - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ G
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HS-ST
Ngày: 14-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Công Hội.

Bà Đỗ Thị Mau.

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Thúy - là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2019/TLST-HS ngày 25/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 31/10/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D (tên gọi khác: Giàu), sinh năm 1988, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng Đại và bà Nguyễn Thị Thanh; có vợ là chị Cao Thị Thùy Dung (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: Ngày 21/10/2016, phạm tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông xử phạt 07 tháng tù. Ngày 25/5/2017, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Về nhân thân: Tháng 02/2010, thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 98/2010/HSPT ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù. Ngày 08/11/2010 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Ngày 18/8/2011, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/8/2011, bị Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 10/8/2013 chấp hành xong.

Tiền sự : Không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2019 - có mặt.

- Bị hại: Anh Lương Đình Hiếu sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Tổ 3, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D là đối tượng không nghề nghiệp, không nơi ở nhất định. Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 28/6/2019, sau khi chơi game bắn cá thua hết tiền Dũng đi bộ đến Siêu thị Coopmart, thuộc phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông thì thấy xe taxi hiệu Toyota Vios, BKS 48A-054.10 của hãng taxi Mai Linh, do anh Lương Đình H (SN 1989) trú tại tổ 3, phường Nghĩa Đ, thị xã G, tỉnh Đắk Nông điều khiển lưu thông từ hướng Hồ Thiên Nga về cầu Đắk Nông, thì D đón xe. Khi lên xe D thấy phía trước vô lăng có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, màu xanh của anh H nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trước đó, D có mang theo sẵn một con dao dài khoảng 25cm, cán dao màu vàng được cất giấu bên trong túi áo.

Nguyễn Văn D nói anh Lương Đình H chở đến đoạn đường bê tông đối diện quán Karaoke Hạ Trắng rồi rẽ phải đi sâu vào trong đoạn đường đất thuộc tổ 1, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông (nơi này vắng vẻ, ít người qua lại). Khi đi được khoảng 50m thấy phía trước có nhiều cành cây chắn ngang đường nên anh H và D xuống dọn qua bên đường rồi lên xe đi tiếp. Lúc này, D ngồi ghế phía trước bên phải, khi anh H điều khiển xe ô tô chạy thì bất ngờ D cầm dao kề vào cổ anh H đe dọa, yêu cầu anh H dừng xe lại. Sau khi dừng xe, anh H kháng cự lại D, trong lúc giằng co với D, anh H dùng hai tay nắm được lưỡi dao bẻ gãy phần lưỡi dao với cán dao thì bị lưỡi dao cắt vào ngón tay giáp út đến ngón tay giữa tay trái và ngón tay trỏ phải. D tiếp tục dùng răng cắn mạnh nhiều nhát vào vùng bả vai, mặt của anh H. Cả hai giằng co được khoảng 07 phút thì anh H mở cửa được cửa xe chạy ra ngoài và gọi người đến giúp đỡ; Còn D bỏ trốn, sau đó bị Cơ quan điều tra bắt giữ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 23/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thị xã G, tỉnh Đắk Nông kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu xanh, trị giá 4.560.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 260/TgT ngày 31/7/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông, kết luận: Lương Đình H các vết sưng nề bầm tím và các vết trầy xước da nông, tỷ lệ 0%.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 lưỡi dao màu trắng kích thước (07x1,8)cm, lưỡi dao có đầu mũi sắt nhọn đầu còn lại bị bẻ cong.

- 01 USB màu xanh, hiệu Kington chứa file Video Camera hành trình thể hiện hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D vào ngày 28/6/2019 (Được niêm phong trong bì thư, đóng dấu của Cơ quan điều tra và chữ ký của Phạm Mạnh D, Nguyễn Đình M và Lương Đình H, kèm hồ sơ vụ án).

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 24 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Văn D về tội "Cướp tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 năm 06 tháng tù đến 10 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do Nguyễn Văn D hiện tại không có tài sản, chưa có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lương Đình H yêu cầu Nguyễn Văn D bồi thường số tiền 5.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB màu xanh, hiệu Kington chứa file Video Camera hành trình thể hiện hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D vào ngày 28/6/2019 (Được niêm phong trong bì thư, đóng dấu của Cơ quan điều tra và chữ ký của Phạm Mạnh D, Nguyễn Đình M và Lương Đình H, kèm hồ sơ vụ án).

- Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao màu trắng kích thước (07x1,8)cm, lưỡi dao có đầu mũi sắt nhọn đầu còn lại bị bẻ cong là phương tiện phạm tội do không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như trong biên bản thu giữ).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố về tội "Cướp tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, D đồng ý bồi thường cho anh Lương Đình H số tiền 5.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp được lưu trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát đối với Nguyễn Văn D. Hội đồng xét xử nhận định:

Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 28/6/2019, sau khi chơi game bắn cá thua hết tiền Nguyễn Văn D đi bộ đến Siêu thị Coopmart, thuộc phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông thì thấy xe taxi hiệu Toyota Vios, BKS 48A-054.10 của hãng taxi Mai Linh, do anh Lương Đình H điều khiển đang lưu thông thì D đón xe. Khi lên xe D thấy phía trước vô lăng có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50, màu xanh của anh H nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trước đó, D có mang theo sẵn một con dao dài khoảng 25cm, cán dao màu vàng được cất giấu bên trong túi áo.

Khi anh Lương Đình H chở Nguyễn Văn D đến đoạn đường đất thuộc tổ 1, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông thì D ngồi ghế phía trước bên phải cầm dao kề vào cổ anh H đe dọa yêu cầu anh H dừng xe lại. Sau khi dừng xe, anh H kháng cự lại và giằng co với D, anh H dùng hai tay nắm được lưỡi dao bẻ gãy phần lưỡi dao với cán dao thì bị lưỡi dao cắt vào ngón tay giáp út đến ngón tay giữa tay trái và ngón tay trỏ phải. D tiếp tục dùng răng cắn mạnh nhiều nhát vào vùng bả vai, mặt của anh H. Cả hai giằng co được khoảng 07 phút thì anh H mở cửa được cửa xe chạy ra ngoài và gọi người đến giúp đỡ; Còn D bỏ trốn, sau đó bị Cơ quan điều tra bắt giữ.

Như vậy hành vi của Nguyễn Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp tài sản" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Điều 168 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

….

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn D đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông xử phạt Nguyễn Văn D 07 tháng tù về tôi trộm cắp tài sản. Ngày 25/5/2017, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.

Về nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 98/2017/HSPT ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt Nguyễn Văn D 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 08/1/2010, chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích. Ngày 18/8/2011, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/8/2011, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 10/8/2013 chấp hành xong.

Nhưng Nguyễn Văn Dũng không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự:

Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Lương Đình H và Nguyễn Văn D. Nguyễn Văn D phải bồi thường thiệt hại cho anh Lương Đình H số tiền 5.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với 01 USB màu xanh, hiệu Kington chứa file Video Camera hành trình thể hiện hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D vào ngày 28/6/2019 (Được niêm phong trong bì thư, đóng dấu của Cơ quan điều tra và chữ ký của Phạm Mạnh D, Nguyễn Đình M và Lương Đình H, kèm hồ sơ vụ án) cần tịch thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 lưỡi dao màu trắng kích thước (07x1,8)cm, lưỡi dao có đầu mũi sắt nhọn đầu còn lại bị bẻ cong là phương tiện phạm tội do không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an thị xã G với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G) cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn D 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/6/2019).

2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự:

Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Lương Đình H và Nguyễn Văn D. Nguyễn Văn D phải bồi thường thiệt hại cho anh Lương Đình H số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Lương Đình H có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành mà Nguyễn Văn D không trả số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB màu xanh, hiệu Kington chứa file Video Camera hành trình thể hiện hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D vào ngày 28/6/2019 (Được niêm phong trong bì thư, đóng dấu của Cơ quan điều tra và chữ ký của Phạm Mạnh D, Nguyễn Đình M và Lương Đình H).

- Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi dao màu trắng kích thước (07x1,8)cm, lưỡi dao có đầu mũi sắt nhọn đầu còn lại bị bẻ cong là phương tiện phạm tội do không còn giá trị sử dụng (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an thị xã G với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày tính từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

- TAND tỉnh Đắk Nông;

Cỡ chữ