vanban.org

Bản án 58/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 tháng tù cho hƣởng án treo chuyển thành án giam, tại bản án hình sự 44/2018/HSST ngày 31/7/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ, buộc Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T- Phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HS-ST
Ngày 08-11-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại Hội trƣờng UBND xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2019/HSST ngày 16-10-2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 16/5/2000; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn G, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị C; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 44 ngày 31/7/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ xử phạt 14 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 06/9/2019 đến nay, có mặt.

- Người bị hại:

+ Chị Khƣơng Thị T, sinh năm 1974;

Trú tại: thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Kim L, sinh năm 1977.

Trú tại: thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn T đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích. Do cần tiền chi tiêu nên T nảy sinh ý định đi xem có gia đình nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 30/8/2019, T đi bộ theo hƣớng UBND xã B ra đƣờng gom cao tốc 5B đi xã Q. Khi qua nhà chị Khƣơng Thị T, T nhìn thấy trong sân nhà chị T có dựng một chiếc xe đạp mini, sơn màu đen đã cũ, phía sau gác ba ga xe có buộc ghế ngồi trẻ em bằng sắt, sơn màu xanh đã cũ. Quan sát thấy không có ngƣời trông coi, T đi vào sân, gạt chân chống xe và dắt xe ra cổng, sau đó đạp xe ra đƣờng liên xã hƣớng đi xã Q. Cùng lúc này, chị T nghe thấy tiếng động, đi ra ngoài kiểm tra thì phát hiện bị mất xe đạp và thấy T đang điều khiển xe của mình cách khoảng 100m. Chị T hô hoán và cùng anh Nguyễn Kim L là hàng xóm đi xe máy chở chị T đuổi theo khoảng hơn 100m thì bắt giữ đƣợc T cùng xe đạp đƣa về UBND xã B lập biên bản làm việc.

Tại kết luận định giá tài sản số 35/KL-ĐGTS ngày 05/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện Tứ Kỳ kết luận: 01 chiếc xe đạp cũ, loại xe mini, sơn màu đen, xe có giỏ nhựa màu đen phía trƣớc. Xe đạp đƣợc mua vào tháng 3/2015, tại thời điểm ngày 30/8/2019 tài sản có giá trị 350.000 đồng; 01 chiếc ghế làm bằng sắt, sơn màu xanh (buộc phía sau gác ba ga của xe đạp dùng để chở trẻ em). Ghế đã cũ bị bóc sơn nhiều chỗ, thành bên trái của ghế không còn các thanh chắn, ghế đƣợc mua vào tháng 10/2015. Tại thời điểm ngày 30/8/2019 tài sản có giá 30.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản T trộm cắp của chị Khƣơng Thị T có giá 380.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKSTK ngày 15-10-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 5 Điều 65, Điều 56; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Văn T từ 06 đến 09 tháng tù, tổng hợp hình phạt 14 tháng tù cho hƣởng án treo tại bản án số 44 ngày 31/7/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ thành án giam, buộc T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 đến 23 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với T; về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng không đặt ra giải quyết, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ngƣời bị hại là chị Khƣơng Thị T xin giải quyết vắng mặt; về trách nhiệm dân sự không đề nghị Tòa án giải quyết; về trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án xét xử bị cáo T theo đúng quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 30/8/2019, tại gia đình chị Khƣơng Thị T ở thôn T, xã B, huyện Tứ Kỳ, Nguyễn Văn T đã lén lút, chiếm đoạt của chị T 01 chiếc xe đạp cũ, loại xe mini, sơn màu đen, sau xe có buộc 01 chiếc ghế chở trẻ em bằng sắt, tổng trị giá 380.000 đồng. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi trộm cắp tài sản của ngƣời khác là trái pháp luật, nhƣng do bản chất ham chơi, lƣời lao động đã cố ý chiếm đoạt tài của ngƣời khác. Mặc dù giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dƣới 2.000.000 đồng, nhƣng do bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chƣa đƣợc xóa án tích nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác mà còn gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự trị an tại địa phƣơng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, cần phải đƣợc xử lý theo quy định pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo T đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích. Do trị giá tài sản trộm cắp dƣới mức định lƣợng quy định của BLHS nên lần bị cáo bị kến án của bản án trƣớc là điều kiện để xử lý bị cáo ở lần phạm tội này nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mặc dù quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ tai điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhƣng dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên phải chuyển hình phạt của bản án trên thành án giam và tổng hợp hình phạt của bản án mới để buộc T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự; Chị T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên không đặt ra việc giải quyết:

Về xử lý vật chứng: Đối với một chiếc xe đạp mini, phía sau gác ba ga có gắn chiếc ghế chở trẻ em, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Khƣơng Thị T nên không đặt ra xử lý.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 5 Điều 65; Điều 56 BLHS;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 14 tháng tù cho hƣởng án treo chuyển thành án giam, tại bản án hình sự 44/2018/HSST ngày 31/7/2018 của TAND huyện Tứ Kỳ, buộc Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/9/2019

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngƣời bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ