vanban.org

Bản án 58/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 23/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HS-ST
Ngày 23-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Hoài Hiêm.

Ông Ngô Minh Lý.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hảnh là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Hu nh Như Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Đặng Tấn L, sinh năm 1992, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư tr : Ấp H, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hoàng P và bà Nguyễn Ngọc K; vợ Tsằn Th y Q và 01 con;

- Tiền án: Tại Bản án số 69/2015/HSST ngày 22-8-2015 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt Đặng Tấn L 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản , chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02-6-2016 (L chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí);

- Tiền sự: Tại Quyết định số 12/QĐ-TA ngày 06-02-2017 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 (Hai mươi bốn) tháng đối với Đặng Tấn L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma t y (L chấp hành đến ngày 26-8-2018 thì bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện);

- Bị tạm giữ ngày 27-5-2019, tạm giam ngày 05-6-2019 đến nay; có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Võ Quốc B, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng măt.

2. Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng măt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp P, xã X, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Chị Trịnh Thị Đ, sinh năm 1983; đia chỉ: Khu phố U, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Chế F, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp V, xã Z, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 02 giờ ngày 20-5-2019, Đặng Tấn L điều khiển xe môtô biển số 71S2-9271 đến khu vực xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh tìm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đi đến quán cà phê (không biển hiệu) của anh Lê Thái Y ở ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh, L thấy quán không đóng cửa nên đi vào trong lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Huawei T3 8inch màu vàng của anh Võ Quốc B và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng của anh Nguyễn Thành C thì bị mọi người phát hiện và tri hô. L bỏ chạy thoát bỏ lại xe môtô và điện thoại di động hiệu Samsung. Sau khi chạy thoát, L đem máy tính bảng hiệu Huawei bán cho anh Nguyễn Chế F ngụ ấp V, xã Z, huyện T, tỉnh Tây Ninh với giá tiền 1.500.000 đồng. Đến ngày 27-5-2019, L bị Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mời đến làm việc và thừa nhận hành vi phạm tội trên.

Qua làm việc, L còn khai nhận: Vào ngày 08-5-2019, L còn đến quán cà phê trên trộm 01 máy tính bảng hiệu Huawei T3 8inch, 01 điện thoại di động Nokia màu đen loại X2, 01 điện thoại di động Nokia 6300 màu bạc của anh Võ Quốc B đem bán cho anh F với tổng số tiền 1.850.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 21/KLĐG ngày 27-5-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bàng, kết luận:

+ 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 868190041250929; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300 màu bạc; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X2 màu đen có tổng trị giá là 4.590.000 đồng (Bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).

+ 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 86819004126818; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxxy J2 Prime màu vàng, số Imei: 353298108177777916 có tổng trị giá là 4.840.000 đồng (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Qua xác minh, Đặng Tấn L không có tài sản nên không kê biên.

Đối với anh Nguyễn Chế F là thợ sửa chữa điện thoại khi mua máy tính bảng và điện thoại di động do L bán không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở xử lý.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKSTrB ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Đặng Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g, h Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Tấn L từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật. Ghi nhận người bị hại Võ Quốc B và Nguyễn Thành C đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra giải quyết.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa bị cáo Đặng Tấn L khai nhận Vào các ngày 08 và 20-5-2019, tại quán cà phê của anh Lê Thái Y ở ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đặng Tấn L đã 01 lần lén l t chiếm đoạt 01 máy tính bảng và 02 điện thoại di động của anh Võ Quốc B trị giá 4.590.000 đồng và 01 điện thoại di động Nguyễn Thành C có giá trị 4.840.000 đồng; Tổng cộng hai lần chiếm đoạt tài sản trị giá 9.430.000 đồng (Chín triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Hành vi của Đặng Tấn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Xét lời nhận tội của bị cáo Đặng Tấn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại; căn cứ kết luận định giá tài sản số 21/KLĐG ngày 27-5-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bàng xác định tổng giá trị tài sản mà bị cáo L trộm cắp là 9.430.000 đồng. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Tấn L phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố và đề nghị xử phạt của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây nỗi hoang mang bất bình trong quần ch ng nhân dân; bản thân bị cáo không bỏ công lao động chân chính để tạo thu nhập mà muốn hưởng thụ trên công sức của người khác nên lợi dụng khi không có người trông giữ tài sản, bị cáo đã lén l t lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng của anh Nguyễn Thành C, và trộm của anh Võ Quốc B 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 86819004126818; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 868190041250929; 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300 màu bạc và 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X2 màu đen để bán có tiền tiêu xài cá nhân nên cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng cho bị cáo; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải nên cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp; Ngược lại bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng đang chấp hành lại bỏ trốn, bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội (phạm 02 lần), lần này được xem là tái phạm nên đây là những tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g, h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về biện pháp tư pháp:

Anh Nguyễn Thành C đã nhận 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng và anh Võ Quốc B đã nhận lại 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 86819004126818; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 868190041250929 xong và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm cần ghi nhận.

Chị Trịnh Thị Đ không yêu cầu anh Nguyễn Chế F và anh Nguyễn Chế F không yêu cầu bị cáo Đặng Tấn L hoàn trả số tiền mua máy tính bảng nhãn hiệu HuaWei T3 8inch là hoàn toàn tự nguyện nên không đặt ra giải quyết.

01 ống kim loại màu trắng dài 35,6cm, đường kính 1,4cm, có 01 đầu nhọn, 01 đầu bằng được quấn băng keo nhựa màu đen không có giá trị, bị cáo dùng làm hung khí tấn công chủ sở hữu khi phát hiện nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 71S2-9271, loại Wave, nhãn hiệu: DAIMU, màu sơn: tím, số máy FMH-000669, số khung: V5A-000169 của anh Nguyễn Văn D nên cần trả lại cho anh là có cơ sở.

Tất cả vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng đang quản lý.

8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Đặng Tấn L 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-5-2019.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Ghi nhận Anh Nguyễn Thành C đã nhận 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng và anh Võ Quốc B đã nhận lại 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 86819004126818 và 01 máy tính bảng nhãn hiệu Huawei T3 8inch màu vàng, số Imei: 868190041250929 xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại màu trắng dài 35,6cm, đường kính 1,4cm, có 01 đầu nhọn, 01 đầu bằng được quấn băng keo nhựa màu đen.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 xe mô tô biển số 71S2-9271, loại Wave, nhãn hiệu: DAIMU, màu sơn: tím, số máy FMH-000669, số khung: V5A-000169.

Tất cả vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng đang quản lý.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Tấn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ