vanban.org

Bản án 58/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Minh T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ ngày 04/02/2019 . Về trách nhiệm dân sự: Không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Phạm Văn Huynh.

+ Ông Đỗ Văn Bê.

-Thƣ ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân, kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2019/HSST, ngày 22 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/HS - QĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Phan Minh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1999 tại Đồng Nai.

Nơi thường trú: Ấp Long Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Số 578, khu phố 2, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thành Đ, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 04/02/2019 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.

-Bị hại:Anh Tô Văn N, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ 31, khu P, TT L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

-Người làm chứng:Anh Ngô Quốc C, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Khu phố 5, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt, anh N, anh C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 00 giờ 15 phút ngày 03/2/2019, Phan Minh T đi bộ từ sạp bán hoa tết của bà Nguyễn Thị Thùy Linh (mẹ ruột của T ) vào khu dịch vụ vườn dầu thuộc khu P, thị trấn L. Khi đi đến quán cà phê “Góc phố”, T phát hiện 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 67L1-602.56 của anh Tô Văn N đang để trong bãi để xe của quán cà phê không có người trông coi, nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt. T đi lại dắt xe đi ra ngoài rồi nổ máy điều khiển xe chạy về hướng thành phố B rồi gửi vào bãi xe của chung cư B, phường B, thành phố B. Sau đó, T đi xe ôm đi về nhà ở phường B ngủ. Đến 09 giờ cùng ngày, T đi xe buýt xuống khu vực L phụ mẹ bán hàng, đến 14 giờ cùng ngày thì T về nhà ở phường B, thành phố B nghỉ. Đến khoảng 16 giờ, T đi xe ôm đến chung cư B lấy xe mô tô biển số 67L1 -602.56 trộm được điều khiển xe đến phòng trọ của Ngô Quốc C ở phường L, thành phố B rủ Cường xuống huyện L phụ bán hàng với T, Cường đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở C xuống huyện L cùng phụ bán hàng cho mẹ của T. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T dùng cờ lê tháo biển số 67L1-602.56 của xe hiệu Wave bỏ vào cốp xe mô tô hiệu Sirius, biển số 60B5-533.03, đồng thời tháo biển số 60B5-533.03 của xe hiệu Sirius gắn vào xe mô tô hiệu Wave. Sau đó T nhờ C điều khiển xe mô tô hiệu Wave đã lắp biển số 60B5-533.03, còn T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius không có biển số đi về thành phố B, khi đến phường Long B, thành phố B thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 14/KL.HĐĐG ngày 13/02/2019 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Long Thành kết luận: 01 xe mô tô hiệu honda Wave màu xám đen bạc ,biển số 67L1-602.56 đã qua sử dụng, có trị giá 11.000.000đồng.

Tại cáo trạng số 66/CT -VKSLT , ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Minh T như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Minh T mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 khóa lục giác hình chữ L dài khoảng13,5cm, 02 miếng kim loại dài khoảng 15cm và 16,5cm là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội. Đối với 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 67L1-602.56 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.

Riêng đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius không có biển số do T khai mua của một người thanh niên tên H không rõ nhân thân lai lịch trên địa bàn thành phố B và 01 biển số xe 60B5-533.03, qua xác minh biển số này được cấp cho xe Wave RSX của anh Lê Anh N bị mất ngày 09/01/2019 tại phường A, thành phố B nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ và thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền.

Đối với Ngô Quốc C có hành vi điều khiển xe mô tô dùm cho T nhưng C không biết xe mô tô này do T phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành không khởi tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Minh T khai nhận: Khi bị cáo đi ngang qua bãi giữ xe của quán cà phê “Góc phố” gần chợ đêm, Vườn dầu thấy có 01 xe mô tô Wave không có người trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm xe, bị cáo vào dắt xe ra ngoài rồi đi về hướng thành phố B, gửi vào bãi xe của chung cư B, phường B, thành phố B mục đích để bán lấy tiền tiêu xài, đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành mô tả.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo là người có đủ sức khỏe và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo không tu chí làm ăn mà nghiện ma túy, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, phục vụ nhu cầu cho bản thân. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Thấy cần, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo khai vào năm 2015, bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường kiểm tra, yêu cầu bị cáo nộp phạt 750.000đồng, bị cáo có nộp số tiền phạt này nhưng bị cáo không nhớ Công an phường nào, khi nộp phạt Công an không ra Quyết định xử phạt, bị cáo đưa trực tiếp cho Công an. Lời khai của bị cáo không có sở để xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 khóa lục giác hình chữ L dài khoảng 13,5cm, 02 miếng kim loại dài khoảng 15cm và 16,5cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 01 xe mô tô, biển số 67L1-602.56, đứng tên chủ sở hữu là Trần Mai Phước Lộc T, nhưng anh Hồ Ngọc P làm giấy tay bán cho anh Tô Văn N, anh N chưa cung cấp được giấy tờ hợp lệ về xe mô tô trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đang tạm giữ để xử lý sau là phù hợp.

Riêng đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius không có biển số do T khai mua của một người thanh niên tên H không rõ nhân thân lai lịch trên địa bàn thành phố Biên Hòa và 01 biển số xe 60B5-533.03, qua xác minh biển số này được cấp cho xe Wave RSX của anh Lê Anh N bị mất ngày 09/01/2019 tại phường A, thành phố B nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ và thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp nhận xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Tô Văn N không có yêu cầu gì về phần bồi thường nên không xét.

Về án phí: Bị cáo Phan Minh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

3. Xử phạt bị cáo Phan Minh T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ ngày 04/02/2019 .

4. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

5. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 khóa lục giác hình chữ L dài khoảng 13,5cm, 02 miếng kim loại dài khoảng 15cm và 16,5cm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Minh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Bị cáo Phan Minh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ

ngày tuyên án. Bị hại anh Tô Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ