vanban.org

Bản án 58/2019/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tố N. Cho chị Nguyễn Tố N được ly hôn với anh Nguyễn Như H.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Tố N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000875 ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Chị N đã nộp đủ án phí DSST.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Tố N - Nguyễn Như H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tố N. Cho chị Nguyễn Tố N được ly hôn với anh Nguyễn Như H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2019/HNGĐST
Ngày: 20-9-2019
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Phan Kim Mạnh

Ông Phan Bá Lịch

- Thư ký phiên toà: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2019 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tố N. Sinh năm: 1995

Trú tại: Khối T, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, Nghệ An

Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Như H. Sinh năm: 1989

Trú tại: Khối H, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, Nghệ An

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Tố N trình bày: Chị Nguyễn Tố N và anh Nguyễn Như H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại UBND thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, qúa trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được, nay anh H đã bỏ đi làm ăn xa và hai người không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau nữa. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc và nay đã sống ly thân. Vì vậy, chị Nguyễn Tố N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Như H.

Về quan hệ con cái: Chị Nguyễn Tố N và anh Nguyễn Như H chưa có con chung. Hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.

Về tài sản: Chị N và anh H không có tài sản chung, không vay của ai hay cho ai vay tài sản gì. Vì vậy, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn Như H, tuy nhiên anh H không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân thị trấn T được biết, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải thì cán bộ UBND thị trấn T không tống đạt được vì anh H không có mặt tại địa phương. Xác minh tại Ban công an thị trấn T được biết, Anh Nguyễn Như H có hộ khẩu thường trú tại khối H, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh H không có mặt tại địa phương, không biết anh H đâu, làm gì và không làm thủ tục khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương. Xác minh tại mẹ của anh H (Bà Trần Thị Th) thì được biết: Sau khi kết hôn với nhau một thời gian, anh H và chị N đã xảy ra mẫu thuẫn và anh H - chị N đã sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay. Hiện nay, anh H đang đi làm ăn xa và gia đình cũng không nắm được địa chỉ cụ thể.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã cố tình giấu địa chỉ và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị N được ly hôn với anh H. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị N phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Tố N và anh Nguyễn Như H là “Ly hôn”, chị N và anh H đều có hộ khẩu cư trú tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Như H không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án và cố tình giấu địa chỉ. Đây là lần thứ hai Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 BLTTDS; điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung:

Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Tố N và anh Nguyễn Như H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn, nay chị N và anh H đã sống ly thân. Thấy rằng, hôn nhân của chị N - anh H không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị Nguyễn Tố N được ly hôn với anh Nguyễn Như H, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Quan hệ con cái: Chị Nguyễn Tố N và anh Nguyễn Như H không có con chung, không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng. Vì vậy, nên miễn xét.

Quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Tố N không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.

Về án phí: Cần buộc chị Nguyễn Tố N phải chịu án phí DSST về ly hôn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 147 BLTTDS;

- Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tố N. Cho chị Nguyễn Tố N được ly hôn với anh Nguyễn Như H.

2. Về án phí:

- Buộc chị Nguyễn Tố N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000875 ngày 25 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Chị N đã nộp đủ án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Tố N có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Như H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ