- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Văn D - Huỳnh Thị B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn D. Cho anh Đặng Văn D được ly hôn với chị Huỳnh Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58 /2019/HNGĐ - ST Ngày: 14/10/2019. “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi
- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông Lại Thiện Phong.
2/ Bà Nguyễn Thị Hiểu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tú Anh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số: 167/2019/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đặng Văn D – sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Chị Huỳnh Thị B – sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Anh Đặng Văn D và chị Huỳnh Thị B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh D có làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Đặng Văn D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011 anh với chị Huỳnh Thị B có tổ chức cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào ngày 28/02/2011. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ anh bỏ đi nên vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay anh D không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân với chị B, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị B;
Về quan hệ con chung: Anh D xác định trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Đặng Vĩ K, sinh ngày 08/7/2011 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 16/11/2013 hiện hai cháu đang sống chung với anh D. Nay anh D yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì.
Đối với bị đơn chị Huỳnh Thị B đã bỏ đi khỏi địa phương nên Tòa án không án tiến hành lấy lời khai được. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đặng Văn D được ly hôn với chị Đặng Thị B.
2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận nguyện vọng của cháu Khang muốn sống cùng anh D. Tiếp tục giao cháu hai Đặng Vĩ K, sinh ngày 08/7/2011 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 16/11/2013 cho anh Đặng Văn D nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Chị B không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;
3. Về quan hệ tài sản: Anh D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra anh D còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Anh Đặng Văn D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị B và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Huỳnh Thị B có nơi đăng ký thường trú tại ấp N, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết.
Nguyên đơn anh Đặng Văn D mặc dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh D. Riêng bị đơn chị Huỳnh Thị B vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Huỳnh Thị B.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Văn D và chị Huỳnh Thị B có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 28/02/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị B là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, anh D xác định giữa anh và chị B phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Anh D xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị B. Mặc dù không ghi nhận được ý kiến của chị B, tuy nhiên qua xác minh đối với ông Trần Văn Vũ – Bí thư ấp N và ông Phạm Tấn C, người dân ở ấp N xác định giữa anh D và chị B có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cự cải, bất đồng quan điểm và cả hai đã sống ly thân với nhau. Kể từ thời điểm ly thân với nhau cả hai anh chị không còn quan tâm, chăm sóc, bỏ mặc nhau. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của anh D chị B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D, cho anh Đặng Văn D được ly hôn với chị Huỳnh Thị B.
Về quan hệ con chung: Anh Đặng Văn D xác định vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Đặng Vĩ K, sinh ngày 08/7/2011 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 16/11/2013 hiện hai cháu đang sống chung với anh D. Qua làm việc cháu Đặng Vĩ K có nguyện vọng được sống cùng anh Đặng Văn D. Còn cháu Đặng Gia B anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi . Xét thấy, khi anh D và chị B ly thân với nhau thì cháu K và cháu B sống cùng anh D, cả hai đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở, học ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao cháu Đặng Vĩ K, sinh ngày 08/7/2011 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 16/11/2013 cho anh Đặng Văn D nuôi dưỡng, trong nôm, chăm sóc, giáo dục. Đồng thời anh D không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận và không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên chị Huỳnh Thị B được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về quan hệ tài sản: Anh Đặng Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn D. Cho anh Đặng Văn D được ly hôn với chị Huỳnh Thị B.
2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận nguyện vọng của cháu Đặng Vĩ K muốn sống cùng anh Đặng Văn D. Tiếp tục giao hai cháu Đặng Vĩ K, sinh ngày 08/7/2011 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 16/11/2013 cho anh Đặng Văn D nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. chị Huỳnh Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về quan hệ tài sản: Anh Đặng Văn D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Đặng Văn D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng anh D đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0002645 ngày 28/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - UBND xã V; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Bé Nhi |