vanban.org

Bản án 58/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Giàng Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 07 gam thuốc phiện và 0,21 gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định, không hoàn lại), theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2018 tại Chi cục thi hành án dâ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Giàng Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2018/HS-ST
Ngày 20 - 9-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Tuấn và bà Bùi Thu Hằng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở UBND xã V, huyện NP; Tòa án nhân dân huyện NP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2018/TLST-HS ngày 01/8/2018.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2018/QĐXXST-HS ngày 10/9/2018 đối với bị cáo.

Giàng Thị N; Sinh năm: 1979 tại huyện Điện Biên Đông - Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T 1 xã NB, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng Khua L (đã chết) và con bà: Sùng Thị S (đã chết); Bị cáo có chồng là Hờ A T sinh năm 1975 và có 05 người con, con nhỏ nhất Hờ Thị C sinh ngày 20/10/2016;

Tiền sự, tiền án: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2018 đến ngày 09/5/2018 được tại ngoại do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người phiên dịch: Anh Hồ A Dế sinh năm 1984

Địa chỉ: Trung tâm huyện NP, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 08/5/2018, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với công an xã NB làm nhiệm vụ tại bản T 1, xã NB, huyện NP đã bắt quả tang Giàng Thị N đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà. Tổ công tác đã thu giữ 04 gói ni lông màu trắng, trong đó 03 gói bên trong chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc và 01 gói bên trong có 03 viên dạng nén, hình trụ tròn, có ký hiệu WY. Giàng Thị N khai nhận đó là thuốc phiện và ma túy tổng hợp do N mua của một người đàn ông không quen biết tại bản T 1 xã NB, huyện NP vào ngày 08/5/2018 với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). N tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích cho chồng là Hờ A Tính sử dụng và chữa bệnh cho gia súc.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 09/5/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Thị N gồm 8,49 gam chất dẻo màu nâu đen và 0,32 gam viên nén màu hồng.

Bản kết luận giám định số: 478GĐ-PC54, ngày 19/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- Mẫu chất dẻo màu nâu đen trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Thị N gửi giám định là chất ma túy: Loại thuốc phiện.

- Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Thị N là chất ma túy: Loại Methamphetamine.

2Cáo trạng số: 33/CT-VKSNP ngày 31/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố bị can Giàng Thị N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm I khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị N từ 18 tháng đến 24 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng của vụ án là thuốc phiện và Methamphetamine. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị N nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình là mua ma túy để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Giàng Thị N đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý và trực tiếp tiếp tay cho những kẻ buôn bán các chất ma túy. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật để giữ vững kỷ cương pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.

Về nhân thân bị cáo: Giàng Thị N sinh ra trong gia đình lao động nhưng không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết xem xét giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Trong hồ sơ vụ án Giàng Thị N khai nhận đã mua ma túy của 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ của người đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không đủ căn cứ để điều tra, xử lý theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS xét thấy bị cáo Giàng Thị N có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có khả năng thi hành nên được miễn hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy sau khi trừ mẫu gửi giám định.

Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Xét thấy bị cáo Giàng Thị N là hộ nghèo của xã NB và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên HĐXX miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Giàng Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS: Xử phạt bị cáo Giàng Thị N 20 (Hai mươi) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ 02 ngày, bị cáo còn phải thi hành 19 (Mười chín) tháng, 28 (Hai mươi tám) ngày, thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 07 gam thuốc phiện và 0,21 gam Methamphetamine (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định, không hoàn lại), theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị N.

[4] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ