- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 58/2018/HSST Ngày: 16/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lò Văn Hải.
2. Ông: Lò Văn Ơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2017/HSST ngày 29/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HS ngày 05/01/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1987, tại Điện Biên.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Đ2, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: làm ruộng, Trình độ học vấn: 12/12.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Con ông: Nguyễn Duy H (Đã chết) và con bà Vũ Thị L, sinh năm 1959.
Bị cáo có 01 người con sinh năm 2014 (Hiện sống cùng mẹ đẻ Nguyễn Thị H).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2017 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/10/2017, Nguyễn Xuân T mang theo số tiền 75.000 đồng đi bộ từ nhà ở Thôn Đ2, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến khu vực giữa đội 18, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để tìm mua Hêrôin về sử dụng.Tại đây, T gặp một người đàn ông dân tộc Thái (Không biết tên, địa chỉ), qua trao đổi biết người đàn ông có bán Hêrôin nênT hỏi mua. T đưa cho người đàn ông số tiền mang theo 75.000 đồng (Gồm một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng), sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho T 01 gói Hêrôin được gói bên ngoài bằng mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 02 gói Hêrôin đều được gói bằng giấy bạc màu vàng. T mở ra xem rồi gói lại như cũ, cho vào túi quần bên phải đang mặc và đi về nhà. Hồi 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực giữa đội 18, xã T, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải T đang mặc 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, mở bên trong có 02 gói đều được gói bằng giấy bạc màu vàng, mở bên trong 02 gói đều có chứa các cục bột màu trắng nghi là Hêrôin.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng đối với số vật chứng thu giữ của Nguyễn Xuân T có khối lượng là 0,15 gam, trích 0,06 gam làm mẫu gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 114/GĐ-PC54 ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định là Hêrôin.
Tại phiên toà, trong lời luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 12 đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Hêrôin, đã trích mẫu gửi giám định 0,06 gam không hoàn lại mẫu sau giám định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016//UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí nội dung Cáo trạng; lời luận tội của đại diện Viên kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không có ý lời bào chữa cho hành vi phạm tội của mình; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; ngườ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Xuân T khai nhận tại phiên tòa, do bản thân nghiện, sử dụng ma túy nên ngày 30/10/2017, T đã đi tìm mua và cất cất giấu trái phép 0,15 gam Hêrôin trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với các bản cung của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, mở niêm phong xác định trọng lượng vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đúng với nội dung Cáo trạng; với hành vi cất giấu khối lượng ma túy nêu trên, bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng Bộ luật Hình Sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực thi hành, HĐXX áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội xét xử đối với bị cáo.
. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội và tiếp tay cho các loại tội phạm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần được phát hiện kịp thời và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân T không có tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 ; bản thân bị cáo sử dụng chất ma túy từ năm 2015, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có thái độ T khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo", quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung; vật chứng; án phí và các vấn đề khác trong vụ án:
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy; ngoài thu nhập từ làm ruộng, không còn thu nhập ổn định khác, không có tài sản riêng có giá trị nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì vậy không áp dụng.
Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luât tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Hêrôin , đã trích 0,06 gam gứi giám định, không hoàn lại mẫu sau giám định, loại Nhà nước cấm lưu hành.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Nguồn gốc số Hêrôin do bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái, không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sủa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2017.
3. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Hêrôin, đã trích 0,06 gam gửi giám định, không hoàn lại mẫu sau giám định. Chi Cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2018.
4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên ; - VKSND huyện Điện Biên; - Công an huyện Điện Biên; - Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Điện Biên; - Bị cáo; - THA hình Sự; lưu bộ phận. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA Nguyễn Văn Định |