- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2018/HS-ST Ngày: 16-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Giang
Ông Lê Đăng Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Nguyệt - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN H, sinh năm 198x; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh V; Nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26-12-2017 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn T, sinh năm 199x; Cư trú tại: Thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố H - Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ 50 phút, ngày 25-12-2017, Tổ công tác Đồn Công an Kim Chung, Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại thôn Đại Đồng, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội khám người và phương tiện theo thủ tục hành chinh đối với Nguyễn Văn H và Trần Văn T (sinh năm: 199x, Trú tại: Thôn C, xã T, huyện Đ, Thành phố H). Phát hiện thu giữ trong túi áo khoác phía trước bên trái Nguyễn Văn H đang mặc 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1,5)cm, được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 5, màu trắng, số Imei: 352082060480883, số thuê bao: 01688081223; 01 ví da màu đen; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01 Đăng ký xe Môtô mang tên Nguyễn Thị H; 01 Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H; 01 Giấy bán xe; 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank mang tên Nguyễn Văn H và 1.860.000 đồng.
Phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái Trần Văn T đang cầm 01 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1,5)cm được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 101, màu đỏ, số thuê bao: 01694074930, số Imei 1: 352872053773061, số Imei 2: 352872053773079.
Khám phương tiện theo thủ tục hành chính đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave ZX, màu tím-đen-trắng, BKS: 29V1-9890, SM: 5024578, SK: 006014 của Nguyễn Văn H phát hiện thu giữ ở gacbaga (giá để đồ) xe máy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 08 túi nilon màu trắng, kích thước (1x1,5)cm, được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đỏ, đen bên trong đều chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.
Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Văn H, Trần Văn T về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đông Anh đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Thành phố H không phát hiện thu giữ vật chứng gì liên quan đến hành vi phạm tội của H.
Cơ quan điều tr a Công an huyê ̣n Đông Anh đa ra Quyết đi ̣̃
nh trưng cầu giám định đối với toàn bộ số vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H và Trần Văn T. Ngày 11-01-2018, Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội ra bản Kết luận giám định số 318/KLGĐ- PC54 kết luận:
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn H: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng: 0,154gam. Tinh thể màu trắng bên trong 08 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng: 1,440 gam.
Vật chứng thu giữ của Trần Văn T: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng: 0,158gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng và bán ma túy “Đá” để kiếm lời, nên khoảng 14 giờ ngày 25-12-2017, Nguyễn Văn H gọi điện từ số thuê bao 01688081223 của H đến số thuê bao 0964818963 của một người phụ nữ tên là Chinh (Hiện không biết nhân thân, lai lịch) đặt vấn đề mua 800.000 đồng tiền ma túy “Đá”. Chinh đồng ý và hẹn Hiện đến khu vực Cầu lớn, xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội để giao nhận ma túy, H đồng ý. Gọi điện cho Chinh xong, H đi xe máy BKS: 29V1- 9890 một mình từ phòng trọ tại Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội đến điểm hẹn để mua ma túy của Chinh. Khi đi đến ngã ba từ Cầu lớn Nam Hồng đi thôn Nhuế, xã Kim Chung, H dừng xe và gọi điện lại cho Chinh bảo đến nơi rồi, Chinh nói sẽ có người đàn ông ra gặp thì H đưa tiền cho người đó. Gọi điện cho Chinh xong, H đứng đợi một lúc thì có một người đàn ông khoảng gần 40 tuổi (H không biết tên và chỗ ở) đi bộ ra gặp và yêu cầu H đưa tiền. H đưa cho người đàn ông này 800.000 đồng, người đàn ông này cầm tiền của H đưa và đi đâu đó khoảng một lát quay lại đưa cho H 01 túi nilon ma túy “Đá”. H nhận túi ma túy “Đá” giấu vào trong người và đi xe máy về phòng trọ. Về phòng trọ, H lấy túi ma túy vừa mua ra chia thành 10 túi nhỏ và quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen 02 túi và màu đỏ- đen 08 túi, cho vào trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và luôn cất giấu trong người.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi H đang ở phòng trọ thì Trần Văn T gọi điện từ số thuê bao 01694074930 đến số thuê bao 01688081223 của H đặt vấn đề mua 300.000 đồng tiền ma túy “Đá”. H đồng ý, hẹn T đến ngã ba từ Đại Đồng đi Mạch Lũng, Đại Mạch (gần UBND xã Đại Mạch) để giao nhận ma túy, T đồng ý. Nghe điện thoại của T xong, H lấy 02 túi nilon ma túy “Đá” được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc còn 08 túi vẫn để trong bao thuốc lá Thăng Long và để ở gacbaga (giá để đồ) xe máy BKS: 29V1- 9890 của H rồi đi xe máy ra điểm hẹn để bán ma túy cho T. Đến nơi H thấy có một xe taxi đang đỗ (không rõ loại và hãng xe), H vẫy tay ra hiệu thì thấy T đi từ trong xe taxi ra gặp H. Tại đây, H bán cho T 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng. Khi H và T vừa giao dịch mua bán ma túy với nhau xong thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Còn chiếc xe taxi sau khi Thảo xuống xe đã đi mất.
Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn Văn H khai nhận ngoài lần bán ma túy cho Trần Văn T bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ ngày 25-12-2017, thì trước đó khoảng 20 giờ ngày 22-12-2017, H còn bán cho T 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng cũng tại Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội. Sau đó, H thay đổi lời khai không thừa nhận việc bán cho T 01 túi ma túy “Đá” ngày 22-12-2017. H khai chỉ nhớ trước ngày bị bắt khoảng 2-3 ngày (không nhớ cụ thể ngày nào) T có gọi điện (không nhớ số điện thoại nào) cho H giới thiệu tên và bảo là “em của Tuấn ở dưới cầu” (H không biết Tuấn nào, ở đâu) rồi đặt vấn đề mua 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng nhưng H không có ma túy để bán cho T.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn H và Trần Văn T. Trần Văn T khẳng định đã mua ma túy của H 02 lần, cụ thể: Lần 1: vào khoảng hơn 20 giờ ngày 22-12-2017, T mua của Hiện 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng tại khu vực gần trụ sở UBND xã Đại Mạch thuộc Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội; Lần 2: vào hồi 22 giờ 50 phút ngày 25-12-2017, T mua của H 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng tại khu vực gần trụ sở UBND xã Đại Mạch thuộc Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội. Nguyễn Văn H khẳng định chỉ bán ma túy cho T ngày 25-12-2017, còn ngày 22-12-2017 H không bán ma túy cho T cũng như người nào khác. Các tài liệu điều tra thu thập được, ngoài lời khai của Trần Văn T thì không còn tài liệu nào khác chứng minh ngày 22-12-2017, H bán cho T 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng tại khu vực gần trụ sở UBND xã Đại Mạch thuộc Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội nên không đủ cơ sở khẳng định H bán ma túy cho T lần này.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ thư tín, điện tín đối với số thuê bao di động 01688081223 (của H) và số thuê bao 0964818963 (của người phụ nữ tên “Chinh”), kết quả: Ngày 25-12-2017, không có cuộc gọi nào giữa 2 số thuê bao 01688081223 và 0964818963. Số thuê bao 0964818963 là thuê bao trả trước, đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 30-11-198x, địa chỉ: xã T, huyện S, tỉnh T, số CMND: 0705742xx, ngày cấp: 13/6/201x, nơi cấp: T.Q. Quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị T (sinh năm: 198x, Trú tại: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh T), chị T khai từ trước đến nay chị T không đăng ký, sử dụng cũng như cho người khác mượn chứng minh nhân dân để đăng ký số thuê bao di động 09648189xx. Còn việc tại sao số thuê bao di động này lại do chị đứng tên chủ sở hữu thì chị T không biết. Chị T không biết và có quan hệ gì với Nguyễn Văn H. Chị T không sử dụng cũng như không mua bán ma túy với ai. Ngày 25-12-2017, chị T ở nhà không đi đâu khỏi địa phương. Căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được thì không đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị T là người phụ nữ tên Chinh mà Nguyễn Văn H đã gọi điện đặt vấn đề mua ma túy ngày 25-12-2017, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 01 diện thoại di động, nhãn hiệu Iphone5, màu trắng, số thuê bao 01688081223; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long Hiện dung để cất giấu ma túy và 1.860.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng tiền Hiện bán ma túy) thu giữ của H; 01 điện thoại thu giữ của Trần Văn T đều là vật chứng có liên quan đến vụ án cần chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Wave ZX, màu: tím-đen-trắng, BKS: 29V1- 9890, SM: 5024578, SK: 006014 cùng đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H và Giấy bán xe. Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 4-2006, chị H có mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu-tím-đen với giá khoảng gần 20.000.000 đồng tại cửa hàng bán xe máy Honda-T.L ở thị trấn Đ, Đ, Thành phố H. Sau đó, chị H đi đăng ký đứng tên chủ sở hữu và được cấp biển kiểm soát: 29V1- 989x. Chị H và gia đình sử dụng chiếc xe máy này đến khoảng giữa năm 2013 thì bán lại cho cháu chị H là Nguyễn Hữu N (sinh năm 199x: Trú tại: xóm B, xã K, huyện Đ, Thành phố H) với giá 10.000.000 đồng. Sau khi bán, chị H không còn liên quan gì đến chiếc xe máy này nữa. Sau đó anh N bán lại chiếc xe trên cho H. H sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện đi lại cho bản thân và đi mua bán ma túy. Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được xác định Nguyễn Văn H là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Wave ZX, BKS: 29V1- 989x, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 ví da màu đen, 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Đăng ký xe và 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank đều mang tên Nguyễn Văn H là tài sản và giấy tờ cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Ngày 16-3-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Văn Th, em trai H quản lý.
Đối với Trần Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,158 gram Methamphetamine. Ngày 11-01-2018, Công an huyện Đông Anh ra Quyết định số 77/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối vớ i T.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS-ĐA ngày 05-4-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 26 đến 30 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng của H do mua bán ma túy mà có, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone5 mầu trắng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave ZX BKS 29V1-989x; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia-101; tạm giữ số tiền 1.560.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của H và T, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người mua ma túy là Trần Văn T, phù hợp với lời khai của người làm chứng là Nghiêm Xuân T, cùng Biên bản khám người theo thủ tục hành chính, Biên bản tạm giữ đồ vật, Biên bản kiểm tra nhật ký điện thoại, Biên bản xác định địa điểm mua bán ma túy và Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 50 phút, ngày 25-12-2017, tại khu vực ngã ba gần UBND xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi mua bán trái phép 0,158 gram ma túy loại Methamphetamine cho Trần Văn T với giá 300.000 đồng và bị Tổ công tác Đồn Công An Kim Chung, Công an huyện Đông Anh phát hiện bắt giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận ngoài lần bán ma túy cho Trần Văn T 25-12-2017, thì trước đó khoảng 20 giờ ngày 22-12-2017, H còn bán cho T 01 túi ma túy “Đá” với giá 300.000 đồng cũng tại Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh, Hà Nội. Sau đó, H thay đổi lời khai không thừa nhận việc bán cho T 01 túi ma túy “Đá” ngày 22-12-2017. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn H và Trần Văn T, Nguyễn Văn H không thừa nhận đã bán ma túy cho T ngày 22-12-2017. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của Trần Văn T, không còn tài liệu nào khác, do đó không đủ căn cứ để chứng minh hành vi bán ma túy ngày 22-12-2017 của Nguyễn Văn H nên không đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn H đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ pháp luật, đúng người và đúng tội.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ma túy là chất dễ gây nghiện, tạo ảo giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nhưng do tham lam tư lợi, bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự; Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xác định là có nhân thân tốt.
Khi quyết định hình phạt , Hội đồng xét xử đã xem xét thái độ khai báo của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy, xử phạt bị cáo mức án tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm ma túy nói riêng và các tội phạm khác nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo có tài sản là số tiền là 1.560.000 đồng bị thu giữ khi bị bắt, được xác định là số tiền của bị cáo do lao động mà có, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung qũy Nhà nước số tiền trên.
Đối với Trần Văn T mua ma túy của H về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Ngày 11-01-2018, Công an huyện Đông Anh đã ra Quyết định số 77/QĐ-XPVPHC xử phạt hành chính 1.500.000 đồng đối với T là có căn cứ. Đối với người phụ nữ tên Chinh đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H, do H khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có căn cứ để làm rõ.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H, Trần Văn T là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, vỏ màu trắng, số thuê bao 01688081223; 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave ZX màu tím-đen-trắng, BKS 29V1-989x thu giữ của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia-101 màu đỏ, số thuê bao 01694074930, thu giữ của T là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 ví da màu đen, 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Đăng ký xe và 01 thẻ ATM của Ngân hàng Vietcombank đều mang tên Nguyễn Văn H là tài sản và giấy tờ cá nhân của H không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Ngày 16-3-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Văn Th, em trai H quản lý là có căn cứ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: khoản 1 và khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.
Căn cứ vào: Điều 106; Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26-12-2017.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 1,594 gam Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn H và Giám định viên; 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,158 gam Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Trần Văn T và Giám định viên, có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-4-2018 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, vỏ màu trắng, số Imei: 352082060480883, số thuê bao 01688081223; 01 xe máy nhãn hiệu Honda-Wave ZX màu tím-đen-trắng, BKS 29V1-989x, SM 5024578, SK 006014, Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị H và Giấy bán xe giữa Hiện và anh Nguyễn Hữu N kèm theo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia-101 màu đỏ, số thuê bao 01694074930, số Imei 1: 352872053773061, số Imei 2: 352872053773079 có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-4-2018 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.860.000 đồng (một triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn H theo Ủy nhiệm chi số 12 ngày 06-4-2018 của Công an huyện Đông Anh vào tài khoản số 3949.0.1047882.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh tại Kho bạc nhà nước huyện Đông Anh.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Án xử công khai sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Chi cục THADS huyện Đông Anh; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu VP; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Anh Tuấn (Đã ký) |