vanban.org

Bản án 58/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Anh V được ly hôn với bà Lê Thị Thu H.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Anh T, sinh ngày 27/4/2012 cho ông Nguyễn Anh V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh Th, sinh ngày 04/02/2017 cho bà Lê Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V về việc không yêu cầu bà H cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Nguyễn Anh V được ly hôn với bà Lê Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14-6-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Nô;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 164/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh V, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Số nhà 260/K, tổ 6, khu phố 7, phường UH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Số nhà 260/K, tổ 6, khu phố 7, phường UH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Anh V trình bày:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Anh V và bà Lê Thị Thu H chung sống với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 23/7/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề của đời sống gia đình, vì vậy vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vả và không còn sống chung từ tháng 03/2018 đến nay. Ông V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông V yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Thu H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Anh T, sinh ngày 27/4/2012 và Nguyễn Ngọc Anh Th, sinh ngày 04/02/2017. Khi ly hôn, ông Nguyễn Anh V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Anh T và giao con chung Nguyễn Ngọc Anh Th cho bà Lê Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, ông V và bà H không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Lê Thị Thu H không đến Tòa án tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo kết quả xác minh tại Công an phường UH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì bà Lê Thị Thu H có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số nhà 260/K, tổ 6, khu phố 7, phường UH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Về mâu thuẫn vợ chồng của ông V và bà H chính quyền địa phương không rõ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện viện Kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.

Về nội dung: Ông Nguyễn Anh V và bà Lê Thị Thu H chung sống với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn số 59 ngày 237/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là hôn nhân hợp pháp. Ông V trình bày vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn sống cùng nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Bà H không đến Tòa án và không có văn bản trình bày ý kiến nên yêu cầu ly hôn của ông V là có căn cứ. Về con chung, ông V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh T, sinh ngày 27/4/2012 và giao con chung Nguyễn Ngọc Anh Th, sinh ngày 04/02/2017 cho bà Lê Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy hiện tại, con chung Nguyễn Anh T đang sống chung với ông V, ông V đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, đối với con chung Nguyễn Ngọc Anh Th chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện tại đang sống cùng bà H nên yêu cầu giao con chung Nguyễn Ngọc Anh Th cho bà H được nuôi dưỡng là có căn cứ. Về cấp dưỡng nuôi con, ông V không yêu cầu nên ghi nhận sự tự nguyện của ông V. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng bà H không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy, bị đơn bà Lê Thị Thu H vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Anh V và bà Lê Thị Thu H chung sống với nhau vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) UH, huyện (nay là thị xã) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 23/7/2010, là hôn nhân hợp pháp. Ông V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, bà H không đến Tòa án cho thấy bà H không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Qua xác minh tại địa phương, ông V và bà không còn sống chung. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông V và bà H trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông V yêu cầu được ly hôn với bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Điều Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Ông V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Anh T, sinh ngày 27/4/2012 và giao con chung Nguyễn Ngọc Anh Th, sinh ngày 04/02/2017 cho bà Lê Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, con chung Nguyễn Anh T hiện đang sống với ông V, ông V đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc các con chung. Con chung Nguyễn Ngọc Anh Th chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện tại đang sống cùng bà H. Do vậy, yêu cầu nuôi con chung của ông V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông V không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí tự nguyện của ông V.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Anh V phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Anh V được ly hôn với bà Lê Thị Thu H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Anh T, sinh ngày 27/4/2012 cho ông Nguyễn Anh V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung tên Nguyễn Ngọc Anh Th, sinh ngày 04/02/2017 cho bà Lê Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ông V về việc không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Anh V và bà Lê Thị Thu H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Anh V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0013870 ngày 16/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ