- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2018/HNGĐ-ST Ngày 10-5-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Luyến
Ông Ngô Minh Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2018 về ly hôn tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Thôn 11, xã TD, huyện NT, thành phố Hải Phòng; địa chỉ nơi ở hiện nay: Số 4/21 Chợ H, phường ĐH, quận CL, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T; địa chỉ: Thôn 11, xã TD, huyện NT, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Xuân T kết hôn với nhau vào năm 2012, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TD, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại thôn 11, xã TD, huyện NT, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống và việc làm kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2017 đến nay. Chị Nguyễn Thị C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Xuân T. Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Tường V sinh ngày 02 tháng 7 năm 2013. Hiện nay chị Nguyễn Thị C đang nuôi con, khi ly hôn chị Nguyễn Thị C xin được nuôi con. Về cấp dưỡng cho con, chị Nguyễn Thị C không đề nghị Tòa án giải quyết. Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T đã được Tòa án tống đạt các văn bản và các quyết định tố tụng nhưng không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; đương sự là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn. Giao cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng cho con chung và tài sản chung không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn số 90/2012 của Ủy ban nhân dân xã TD, huyện NT, thành phố Hải Phòng xác định anh Nguyễn Xuân T và chị Nguyễn Thị C kết hôn với nhau vào ngày ngày 22 tháng 10 năm 2012; Tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng ly thân nhau từ đầu năm 2017 đến nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Xuân T được xác lập vào năm 2012 là hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp và vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2017 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh Nguyễn Xuân T đến Tòa án để hòa giải nhưng anh Nguyễn Xuân T đều vắng mặt, điều này thể hiện anh Nguyễn Xuân T không muốn hòa giải. Chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị Nguyễn Thị C là phù hợp Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Tường V sinh ngày 02 tháng 7 năm 2013. Hiện nay chị Nguyễn Thị C đang nuôi con, khi ly hôn chị Nguyễn Thị C xin được nuôi con nên giao con cho chị Nguyễn Thị C nuôi là phù hợp Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng cho con, chị Nguyễn Thị C không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
2. Chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Tường V sinh ngày 02 tháng 7 năm 2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0008729 ngày 26 tháng 01 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Nguyễn Thị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thủy Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên; - UBND xã TD; - Đương sự; - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Sơn |