vanban.org

Bản án 58/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 08/05/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Tô Thị Thu T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Thị Thu T ly hôn với anh Danh V. Về quan hệ con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Tô Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 58/ 2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 08/ 5/ 2018
V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Khưu Để Dành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Cảnh.
2. Ông Phan Minh Quốc.
dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 20/2018/TLST-HNGĐ ngày
25/01/2018 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 196/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/4/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Thu T, sinh 1991 (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Danh V, sinh 1990 (vắng mặt).
Ngày 08 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tô Thị Thu T trình bày: Chị với anh Danh V kết hôn vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc có một con chung tên Danh Ái M, sinh ngày 20/02/2011. Nhưng đến năm 2013 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, nguyên nhân do anh V thường xuyên nhậu về đánh đập chị, vì thương con chị khuyên can anh V nhiều lần nhưng anh V không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh V. Về quan hệ con chung chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Danh V: Kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh V đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị đơn anh Danh V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh V.

Sau khi quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau, năm 2011 chị Tô Thị Thu T với anh Danh V tự nguyện chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 21KH ngày 14/3/2011. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Tô Thị Thu T, thấy: Vợ chồng chị T và anh V chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc và đã có con chung. Tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, đến năm 2013 thì vợ chồng đã sống ly thân và kể từ năm 2016 cho đến nay chị T với anh V không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị T, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh V đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc, giáo dục con chung.

Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Tô Thị Thu T với anh Danh V không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tô Thị Thu T.

Xét về quan hệ con chung, thấy: Cháu Danh Ái M, sinh ngày 20/02/2011 được chị Tô Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ khi chị T và anh V ly thân cho đến nay, ngoài ra tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2018 cháu Mỹ cũng có nguyện vọng được sống chung với chị T, để ổn định cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu Mỹ. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Danh Ái M cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Tô Thị Thu T là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của chị Tô Thị Thu T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Thị Thu T ly hôn với anh Danh V.

Về quan hệ con chung:

- Giao con chung tên Danh Ái M, sinh ngày 20/02/2011 (hiện đang sống với chị Tô Thị Thu T) cho chị Tô Thị Thu T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Anh Danh V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Mỹ được sống chung với chị T và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị T không được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tô Thị Thu T chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000921 ngày 25/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

Chị Tô Thị Thu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án, anh Danh V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ