- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "bà Tạ Thị L yêu cầu tuyên bố bà và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 8, Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l…
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58 /2018/HNGĐ-ST Ngày 12 /7/2018 V/v: Tuyên bố không phải là vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Thoa
2. Bà Tống Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lệ Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa không tham gia phiên tòa
Trong ngày 12 tháng 7 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về việc "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị L - Sinh năm: 1969.
Địa chỉ: Thôn 4,xã VT, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn V – Sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn 4,xã VT, huyện V, tỉnh Thanh Hóa
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị bà Tạ Thị L trình bày
- Về hôn nhân: Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V sống chung trên cơ sở tự nguyện từ năm 1989, không đăng ký kết hôn . Bà L và ông V chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian dài, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng nhiều quan điểm sống. Bà L và ông V đã sống ly thân từ năm 2011. Đến nay bà L xét thấy tình cảm giữa bà và ông V không còn, hai người không thể chung sống với nhau được nữa nên bà Tạ Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V có 02 con chung là Đỗ Thị Hoa - Sinh năm 1990 và Đỗ Văn Quang - Sinh năm 1994. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V có một số tài sản chung nhưng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23/5/2018 và các lời trình bày tại tòa án bị đơn là ông Đỗ Văn V trình bày:
- Về hôn nhân: Ông V và bà Tạ Thị L chung sống từ năm 1989 không có đăng ký kết hôn. Hai người chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian dài, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng nhiều quan điểm sống. Ông V và bà L đã sống ly thân từ năm 2011. Đến nay ông V xét thấy tình cảm giữa bà L và ông không còn, hai người không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nay bà L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng, ông V cũng thống nhất.
- Về con chung: Ông V và bà L có 02 con chung là Đỗ Thị H - Sinh năm 1990 và Đỗ Văn Q - Sinh năm 1994. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ông Đỗ Văn V và bà Tạ Thị L có một số tài sản chung nhưng tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa vµ trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Tạ Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng, ông Đỗ Văn V cư trú tạixã VT, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm b khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V là hôn nhân không hợp pháp, bởi lẽ theo quy định của pháp luật nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng phải đăngt ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V chung sống chung với nhau từ năm 1989, đã có con chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn do đó. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở tuyên bố bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng.
Về con chung: Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V thống nhất, bà L, ông V có 02 con chung tên là Đỗ Thị H - Sinh năm 1990 và Đỗ Văn Q - Sinh năm 1994. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V thống nhất không có tài sản gì chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Tạ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Các Điều 8, Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Tuyên bố Bà Tạ Thị L và ông Đỗ Văn V không phải là vợ chồng.
2. Về án phí: Bà Tạ Thị L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/000231 ngày 02/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy bà Tạ Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Tuấn |