- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 58/2017/HSST Ngày 21/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đức - Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Tứ Kỳ và bà Nguyễn Thị Hoan - Bác sỹ Trạm y tế xã Quang Khải, huyện Tứ Kỳ.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vƣơng Đình Thi - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2017/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn P, sinh năm 1982; trú tại: thôn 7, xã G, huyện V, thành phố H; trình độ văn hoá: 4/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lƣơng Văn A và bà Phạm Thị L; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2017, sau chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY
Bị cáo Lƣơng Văn P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Lƣơng Văn P là ngƣời nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 16/6/2017, P điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha biển số 16L3-4555 của ông Lƣơng Văn A (là bố P) từ nhà sang xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng mua ma túy để sử dụng. Khi đến xã Văn Tố, P vào nhà của một ngƣời tên Toàn (P không nhớ địa chỉ, đƣờng đi vào nhà Toàn, không biết họ và tuổi của Toàn), mua của Toàn 01 túi nilon, kích thƣớc (2,5x3)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (ma túy đá) với giá 300.000 đồng. P cất gói ma túy vừa mua đƣợc vào túi quần bên trái phía sau và đi xe máy về nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi P đang điều khiển xe máy đi trên trục đƣờng liên thôn thuộc địa phận thôn Đông Lâm, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ thì bị đội Cảnh sát hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên trái phía sau P đang mặc 01 túi nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha biển số 16L3-4555.
Tại kết luận giám định số 3078/C54(TT2) ngày 03/8/2017, Viện khoa học hình sự - Tổng cục Cảnh sát kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong túi nilon gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 1,187gam loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 52/VKS - HS, ngày 28/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Lƣơng Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lƣơng Văn P đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ cáo trạng mà VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố tại bản cáo trạng. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn P phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lƣơng Văn P từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, 16/6/2017; về hình phạt bổ sung: không áp dụng; về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 0,640 gam Methamphetamine; về án phí: buộc bị cáo P phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Tại phiên toà, bị cáo Lƣơng Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 giờ ngày 16/6/2017, tại đƣờng liên thôn thuộc địa phận thôn Đông Lâm, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Lƣơng Văn P có hành vi cất giấu trái phép trong túi quần 1,187 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị cơ quan công an bắt quả tang.
Bị cáo Lƣơng Văn P là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc cất giấu trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Tổng trọng lƣợng Methamphetamine mà bị cáo P tàng trữ là 1,187 gam nên hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ trên là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc ở tất cả các khâu nên cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa loại tội phạm này hiện nay nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng nhƣ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải bắt bị cáo P cách ly đời sống xã hội một thời gian để Nhà nƣớc giáo dục bị cáo trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999 là “phạt tù từ hai năm đến bảy năm”, nhƣng mức hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là “phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, đây là quy định có lợi cho ngƣời phạm tội nên HĐXX sẽ áp dụng để quyết định mức hình phạt cho bị cáo P.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo P là đối tƣợng nghiện ma tuý, không nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: số Methamphetamine mà Viện khoa học hình sự hoàn lại sau giám định (0,640 gam) là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với ngƣời thanh niên tên Toàn bán ma túy cho P nhƣng Cơ quan điều tra chƣa làm rõ đƣợc nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: bị cáo Lƣơng Văn P phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lƣơng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lƣơng Văn P 13 (mƣời ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, 16/6/2017.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 0,640 gam Methamphetamine (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2017 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lƣơng Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - CA huyện Tứ Kỳ; - THADS huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu Toà, lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đoàn Thị Hƣơng Nhu |